Hà Nội trong miền nhớ tuổi mười bảy

Hà Nội trong miền nhớ tuổi mười bảy
Tranh minh họạ: AL

 

NHỚ HÀ NỘI  CỦA RIÊNG TÔI

Thơ: LƯƠNG TOÁN
(BD: LƯƠNG MẠNH HẢI)

 

Ngày đầu thu Hà Nội

Ở trong lòng Hà Nội

Mà vẫn nhớ da diết

Hà Nội xưa… riêng tôi

 

Mười bảy tuổi đầu đời

Từ Hưng Yên lên tỉnh

Tháng nào cũng khám bệnh

Lấy thuốc ở Bạch Mai

 

Tưởng phí một đời trai

Mắc nan y tứ chứng

Giành giật hy vọng sống

Từ cõi chết trở về…

 

Ngày đi mấy chặng xe

Leng keng tiếng tầu điện

Bạch Mai… bệnh viện hẹn

Hàng Cót…Vọng, quen dần…

 

Vui qua chợ Đồng Xuân

Ngắm tóc bồng thiếu nữ

Những nam thanh, nữ tú

Của Hà Nội ngày xưa…

 

Đã bao mùa nắng mưa

Bảy mươi năm có lẻ

Một quãng đời trai trẻ

Phải vượt lên chính mình.

 

Rồi vào cuộc chiến tranh

Lại cần kề cái chết

Lòng vẫn yêu tha thiết

Nhớ Thủ đô… ngày nào!

 

Gần chín chục tuổi đời

Nghe “Hà Nội mùa thu”

Càng nhớ Hà Nội xưa

Của tôi… Tuổi mười bảy!

Hà Nội 10-10-2026

Hà Nội trong miền nhớ tuổi mười bảy
Chân dung nhà thơ Lương Toán.

Lời bình: BÁ NHA

HÀ NỘI TRONG MIỀN NHỚ TUỔI MƯỜI BẢY

Lời bình bài thơ “Nhớ Hà Nội của riêng tôi” của Lương Toán

Có những miền đất càng đi xa trong năm tháng, con người càng muốn tìm về. Với nhà thơ Lương Toán, Hà Nội không chỉ là Thủ đô ngàn năm văn hiến, mà còn là miền ký ức riêng tư, nơi lưu giữ những tháng ngày gian khó, những lần đối diện sinh tử và bóng dáng chàng trai mười bảy tuổi. Bài thơ “Nhớ Hà Nội của riêng tôi” là lời tâm tình chân thành, đưa người đọc trở về một Hà Nội xưa qua nỗi nhớ da diết, thấm đẫm tình người.

Tác giả đặt mình vào một nghịch lý giàu sức gợi nhớ Hà Nội xưa, bằng khổ thơ đầu:

“Ngày đầu thu Hà Nội

Ở trong lòng Hà Nội

Mà vẫn nhớ da diết

Hà Nội xưa… riêng tôi”

Đang sống giữa lòng Hà Nội mà vẫn nhớ Hà Nội, tưởng như mâu thuẫn nhưng lại rất tự nhiên. Bởi Hà Nội hôm nay và Hà Nội trong ký ức không hoàn toàn là một. Thành phố đổi thay theo năm tháng, còn Hà Nội của nhà thơ vẫn nguyên vẹn trong miền sâu thẳm tâm hồn. Hai chữ “riêng tôi” khiến nỗi nhớ mang dấu ấn cá nhân, gần gũi mà sâu lắng.

Ký ức ấy bắt đầu từ tuổi mười bảy:

“Mười bảy tuổi đầu đời

Từ Hưng Yên lên tỉnh

Tháng nào cũng khám bệnh

Lấy thuốc ở Bạch Mai”

Tuổi mười bảy vốn là tuổi của ước mơ và những dự định phía trước. Thế nhưng, tuổi trẻ của nhân vật trữ tình lại gắn với bệnh viện, những lần khám bệnh và những chuyến đi lấy thuốc. Hà Nội hiện lên trước hết không phải bằng vẻ phồn hoa, mà qua địa chỉ thân thuộc: Bạch Mai. Cách kể giản dị, không tô vẽ khiến những tháng ngày gian khó càng trở nên chân thực.

Nỗi ám ảnh ấy được đẩy lên trong những câu thơ tiếp theo:

“Tưởng phí một đời trai

Mắc nan y tứ trứng

Giành giật hy vọng sống

Từ cõi chết trở về…”

Câu thơ “Tưởng phí một đời trai” chất chứa nỗi tuyệt vọng khi tương lai bỗng trở nên mong manh. Nhưng sau nỗi đau vẫn le lói niềm hy vọng. “Từ cõi chết trở về” không chỉ đánh dấu bước ngoặt cuộc đời, mà còn gợi nghị lực của con người trước nghịch cảnh. Hà Nội vì thế không chỉ là nơi chữa bệnh, mà còn là nơi chứng kiến cuộc giành giật sự sống, giúp chàng trai trẻ thêm trân trọng những ngày tháng phía trước.

Từ những chuyến đi chữa bệnh, Hà Nội dần trở nên thân thuộc qua từng cung đường, góc phố:

“Ngày đi mấy chặng xe

Leng keng tiếng tầu điện

Bạch Mai… bệnh viện hẹn

Hàng Cót…Vọng, quen dần…”

Những địa danh được nhắc đến tự nhiên, đủ sức đánh thức ký ức. Tiếng tàu điện leng keng gợi không gian phố cũ và nhịp sống Hà Nội một thời. Bạch Mai, Hàng Cót, Vọng… không chỉ là những địa điểm trên bản đồ, mà còn là dấu mốc trong hành trình trưởng thành của tác giả.

Giữa những chuyến đi và tháng ngày điều trị, cuộc sống vẫn có những khoảng sáng dịu dàng:

“Vui qua chợ Đồng Xuân

Ngắm tóc bồng thiếu nữ

Những nam thanh, nữ tú

Của Hà Nội ngày xưa…”

Chợ Đồng Xuân trở thành phông nền cho những rung động rất trẻ. Hình ảnh mái tóc thiếu nữ, những nam thanh nữ tú gợi một Hà Nội thanh lịch, duyên dáng trong cảm nhận của chàng trai quê mới lớn. Đôi khi, chỉ một dáng người, một nét tóc cũng đủ lưu lại suốt cuộc đời.

Nét văn hóa của bài thơ nằm chính ở những chi tiết đời thường ấy. Hà Nội không chỉ có di tích, danh thắng, mà còn có tiếng tàu điện, khu chợ, những con phố và vẻ duyên dáng của con người. Những điều bình dị làm nên hồn cốt đô thị, đồng thời tạo nên Hà Nội của riêng mỗi người.

Thời gian trôi qua, chàng trai năm nào đã đi gần trọn một đời người:

“Đã bao mùa nắng mưa

Bảy mươi năm có lẻ

Một quãng đời trai trẻ

Phải vượt lên chính mình.”

“Bảy mươi năm có lẻ” không chỉ gợi khoảng cách thời gian, mà còn là độ dài của trải nghiệm và trưởng thành. Nhìn lại tuổi trẻ, tác giả nhẹ nhàng nhắc đến hành trình “vượt lên chính mình”. Câu thơ gửi gắm một chiêm nghiệm sâu sắc: con người có thể không lựa chọn được hoàn cảnh, nhưng có thể lựa chọn cách đối diện với nghịch cảnh.

Thử thách không chỉ dừng lại ở bệnh tật:

“Rồi vào cuộc chiến tranh

Lại cần kề cái chết

Lòng vẫn yêu tha thiết

Nhớ Thủ đô… ngày nào!”

Từ những ngày giành giật sự sống đến những năm tháng đối diện hiểm nguy trong chiến tranh, cuộc đời tác giả nhiều lần đứng trước ranh giới sinh tử. Thế nhưng, tình yêu Hà Nội vẫn vẹn nguyên. Nỗi nhớ Thủ đô trở thành sợi dây nối những chặng đường đời, làm nổi bật sức bền của ký ức và tình cảm con người.

Khép lại bài thơ là hình ảnh tuổi già nghe khúc hát quen thuộc:

“Gần chín chục tuổi đời

Nghe ‘Hà Nội mùa thu’

Càng nhớ Hà Nội xưa

Của tôi… Tuổi mười bảy!”

Âm nhạc trở thành chiếc cầu nối hiện tại với quá khứ. Một giai điệu đủ làm sống dậy cả miền ký ức, đưa người đã gần chín chục tuổi trở về với chàng trai mười bảy năm nào. Câu kết “Của tôi… Tuổi mười bảy!” vừa như tiếng reo thầm, vừa là lời tự bạch xúc động. Điều còn đọng lại không chỉ là Hà Nội xưa, mà còn là tuổi trẻ với bao mong manh, đau đớn, hy vọng và yêu thương.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, ngôn ngữ mộc mạc, câu thơ ngắn, giọng điệu gần với lời tâm tình. Các địa danh, âm thanh và hình ảnh đời thường đan xen những dấu mốc cuộc đời, tạo nên dòng hồi tưởng tự nhiên. Một số câu thiên về kể, nhưng chính sự chân chất ấy phù hợp với tiếng lòng của người đã đi gần hết hành trình đời mình, muốn lưu giữ những ký ức không thể phai mờ.

“Nhớ Hà Nội của riêng tôi” của nhà thơ Lương Toán, không chỉ là nỗi nhớ một thành phố, mà còn là lời tri ân cuộc sống và những năm tháng đã làm nên một con người. Mỗi người đều có một Hà Nội của riêng mình: một con phố, một âm thanh, một dáng hình hay một thời tuổi trẻ từng đi qua giông gió. Càng đi xa trong năm tháng, ta càng hiểu giá trị của những ký ức vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim./.

BÁ NHA

 

 

 

 

error: Content is protected !!