“Khung cửa sổ” của Lưu Giang – Nơi khép lại một không gian, mở ra một cõi lòng

“Khung cửa sổ” của Lưu Giang – Nơi khép lại một không gian, mở ra một cõi lòng
Ảnh minh hoạ: Bá Nha có sử dụng AI

 

 

“KHUNG CỬA SỔ” CỦA LƯU GIANG – NƠI KHÉP LẠI KHÔNG GIAN, MỞ RA MỘT CÕI LÒNG

Thơ: Lưu Giang
Lời bình: Nguyễn Bá Nha (Cử nhân Việt Nam học)

Có những hình ảnh bước vào thơ không phải để làm nền cho cảnh vật, mà trở thành nơi neo đậu của tâm trạng. Với Lưu Giang, “khung cửa sổ” trong bài thơ Khung cửa sổ… chính là một hình ảnh như thế. Từ một khung cửa “chưa bao giờ mở”, tác giả dẫn người đọc đi qua những mùa đi – về, những cánh hoa tàn, tiếng ếch xa, bóng chim mùa xuân, tia nắng bình minh và cả những khoảng trống của một đời người. Bài thơ không cầu kỳ về ngôn từ, nhưng có sức gợi bởi cái buồn lặng lẽ, bởi những câu hỏi không dễ tìm lời đáp và nhất là bởi cảm giác thời gian đang trôi qua rất nhanh, để lại phía sau con người những điều từng thương nhớ. “Khung cửa sổ” của Lưu Giang – một không gian thơ:

KHUNG CỬA SỔ…

Khung cửa sổ chưa bao giờ mở
Mùa ra đi bỡ ngỡ không về
Qua năm tháng đời chăn đơn, gối lẻ…
Gió mùa xuân sao ấm được mùa đông….!?

Ta dừng lại bên hiên mùa gió đổi
Nhành hoa mai lả tả cánh hoa tàn…
Ai đi đến rồi buông niềm nhung nhớ
Nỗi lòng nào gởi lại giấc mơ xa…

Kìa suối nhỏ, con cá vàng quẫy nước…
Tiếng ếch xa làm xao động khu vườn…
Ta ngồi lặng nhìn chim về múa hát…
Cảnh mùa xuân còn đọng chút dư hương…

Tia nắng ấm, buổi bình minh thức giấc…
Ngày qua nhanh như sương đọng trên cành..
Một thoáng chốc đã hóa thành dĩ vãng…
Ta còn gì lưu luyến chuyện trăm năm…

Khung cửa nhỏ vần nằm im nơi đấy…
Trên tường rêu ngói phủ một màu xanh….
Ta vương vấn, hay lòng còn trắc ẩn…
Người đi rồi biết còn nhớ ta chăng…!!?.
15.03.2026
(Lưu Giang)

Ngay từ những câu thơ mở đầu, hình tượng trung tâm đã được đặt trong một trạng thái đầy ám ảnh:

“Khung cửa sổ chưa bao giờ mở
Mùa ra đi bỡ ngỡ không về
Qua năm tháng đời chăn đơn, gối lẻ…
Gió mùa xuân sao ấm được mùa đông….!?”

“Khung cửa sổ” vốn là nơi giao hòa giữa bên trong và bên ngoài, giữa căn phòng và thế giới. Nhưng ở đây, nó “chưa bao giờ mở”. Cánh cửa khép lại không chỉ là sự đóng kín của không gian mà dường như còn là sự khép kín của lòng người. Đáng chú ý, tác giả không viết “người đi không về” mà viết “Mùa ra đi bỡ ngỡ không về”. Cách nhân hóa khiến “mùa” mang dáng dấp của một con người, có đến, có đi, có lưu luyến, có chia xa. “Mùa” cũng vì thế trở thành ẩn dụ cho thời gian và những cơ duyên trong đời.

Câu thơ “Gió mùa xuân sao ấm được mùa đông?” tạo nên một nghịch lý giàu sức gợi. Xuân vốn tượng trưng cho ấm áp, sinh sôi, hy vọng; đông lại gợi lạnh giá, cô đơn. Nhưng một khi tâm hồn đã mang cái lạnh của mất mát thì hơi ấm bên ngoài dường như không đủ sức sưởi. Đó là cái lạnh của cảnh vật hay cái lạnh từ bên trong lòng người? Câu hỏi bỏ ngỏ, nhưng chính sự bỏ ngỏ ấy làm nên dư âm.

Từ “khung cửa”, mạch thơ chuyển sang một không gian vừa thực vừa mộng:

“Ta dừng lại bên hiên mùa gió đổi
Nhành hoa mai lả tả cánh hoa tàn…
Ai đi đến rồi buông niềm nhung nhớ
Nỗi lòng nào gởi lại giấc mơ xa…”

“Nhành hoa mai” – biểu tượng quen thuộc của mùa xuân – ở đây không còn rực rỡ mà “lả tả cánh hoa tàn”. Cái đẹp hiện diện trong khoảnh khắc cuối của nó, vì thế càng gợi buồn. Từ cảnh hoa, tác giả chuyển rất tự nhiên sang tình người: “Ai đi đến rồi buông niềm nhung nhớ”. Một chữ “buông” mà gợi nhiều trạng thái: buông một người, buông một cuộc tình, buông một giấc mơ hay buông một phần ký ức không thể níu giữ.

Điểm đáng chú ý của bài thơ là tác giả không đẩy nỗi buồn đến bi lụy. Sau những câu thơ mang màu sắc hoài niệm, thiên nhiên bất chợt cựa mình:

Kìa suối nhỏ, con cá vàng quẫy nước…
Tiếng ếch xa làm xao động khu vườn…
Ta ngồi lặng nhìn chim về múa hát…
Cảnh mùa xuân còn đọng chút dư hương…”

Những âm thanh và chuyển động “quẫy nước”, “xao động”, “múa hát” làm không gian thơ sống lại. Nếu “khung cửa sổ” là biểu tượng của sự khép kín thì thế giới bên ngoài vẫn không ngừng vận động. Suối vẫn chảy, cá vẫn quẫy, tiếng ếch vẫn vọng về, chim vẫn tìm mùa xuân để cất tiếng. Thiên nhiên dường như gửi đến con người một lời nhắc nhẹ nhàng: cuộc sống vẫn tiếp diễn, dù trong lòng ai đó còn đang đứng lại.

Đặc biệt, đoạn thơ:

“Tia nắng ấm, buổi bình minh thức giấc…
Ngày qua nhanh như sương đọng trên cành..
Một thoáng chốc đã hóa thành dĩ vãng…

Ta còn gì lưu luyến chuyện trăm năm…” là nơi cảm xúc riêng tư được nâng lên thành suy tưởng nhân sinh. So sánh “ngày qua nhanh như sương đọng trên cành” vừa đẹp vừa mong manh. Sương hiện hữu đó nhưng rất dễ tan; thời gian cũng vậy, tưởng dài mà ngoảnh lại đã thành quá khứ. Cụm từ “một thoáng chốc” đặt cạnh “dĩ vãng” tạo nên cảm giác về sự ngắn ngủi của kiếp người. “Chuyện trăm năm” vì thế không chỉ là câu chuyện tình cảm mà còn có thể được hiểu rộng hơn là những dự định, những gắn bó, những điều con người từng tha thiết trong cuộc đời.

Khổ thơ cuối đưa hình tượng “khung cửa sổ” trở lại, tạo thế kết vòng:

“Khung cửa nhỏ vẫn nằm im nơi đấy…
Trên tường rêu ngói phủ một màu xanh….
Ta vương vấn, hay lòng còn trắc ẩn…
Người đi rồi biết còn nhớ ta chăng…!!?”

Khung cửa vẫn “nằm im”, rêu ngói phủ xanh, còn con người thì đã đi qua biết bao biến động. Sự đối lập giữa cái “nằm im” của cảnh vật và dòng chảy của thời gian làm nỗi buồn thêm sâu. Đáng nhớ nhất là câu hỏi cuối: “Người đi rồi biết còn nhớ ta chăng…?”. Đây không đơn thuần là câu hỏi dành cho một người đã đi. Nó còn là câu hỏi về sự hiện hữu của những kỷ niệm: Khi một người rời khỏi đời ta, liệu tình cảm có còn ở lại? Và khi thời gian phủ lên tất cả một màu rêu xanh, những gì từng quý giá có còn được ai đó nhớ tới?

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng khá linh hoạt các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập; nổi bật là việc lấy một hình ảnh đời thường – “khung cửa sổ” – làm biểu tượng xuyên suốt. Hệ thống hình ảnh thiên nhiên như mùa xuân, hoa mai, suối nhỏ, cá vàng, tiếng ếch, chim, tia nắng, sương… tạo nên một bức tranh giàu chất trữ tình. Đặc biệt, những dấu chấm lửng xuất hiện nhiều lần góp phần tạo khoảng trống cảm xúc, như thể có những điều nhân vật trữ tình muốn nói nhưng vẫn còn giữ lại trong lòng.

Điều đọng lại sau bài thơ không chỉ là nỗi buồn của một người đứng bên khung cửa nhìn mùa đi qua, mà còn là lời nhắc về giá trị của thời gian và tình người. Có những cánh cửa nếu khép quá lâu sẽ trở thành rêu phủ; có những cơ hội nếu để trôi qua sẽ chỉ còn trong ký ức. Bởi vậy, Khung cửa sổ… có thể được đọc như một lời tự vấn nhẹ nhàng: hãy biết trân trọng những người đang hiện diện, biết mở lòng trước yêu thương và đừng để đến khi “một thoáng chốc đã hóa thành dĩ vãng” mới nhận ra điều mình từng có quý giá đến nhường nào.

Sau cùng, khung cửa trong thơ Lưu Giang vẫn chưa mở. Nhưng chính từ khung cửa ấy, một thế giới nội tâm đã mở ra trước người đọc – một thế giới của mùa, của nhớ, của buồn và của những câu hỏi về tình người. Và có lẽ, giá trị đẹp nhất của bài thơ nằm ở chỗ: từ một nỗi niềm riêng, tác giả đã khơi lên một sự đồng cảm chung – bởi trong hành trình đời người, ai cũng từng có một “khung cửa sổ” của riêng mình, nơi ta đứng lại, nhìn thời gian đi qua và tự hỏi: điều gì còn ở lại?

 

ẢNH CHÂN DUNG NHÀ THƠ LƯU GIANG VÀ CỬ NHÂN NGUYỄN BÁ NHA:

“Khung cửa sổ” của Lưu Giang – Nơi khép lại một không gian, mở ra một cõi lòng
Ký họa chân dung nhà thơ Lưu Giang. Ảnh: Lưu Giang cung cấp

 

“Khung cửa sổ” của Lưu Giang – Nơi khép lại một không gian, mở ra một cõi lòng
Ký họa chân dung Nguyễn Bá Nha của hoạ sĩ Trần Trưởng.
error: Content is protected !!