“Tản mạn ngày thu” của Lưu Giang – Khi mùa thu đi qua, để lại một nụ cười

“TẢN MẠN NGÀY THU” – KHI MÙA THU ĐI QUA, ĐỂ LẠI MỘT NỤ CƯỜI

Thơ: Lưu Giang
Lời bình: Cử nhân Nguyến Bá Nha 

 

TẢN MẠN NGÀY THU….

Gió heo may thổi qua ghềnh…
Tóc mây vương sợi tơ tình qua đêm…
Tôi ngồi đếm những chông chênh.
Ghe hương ngày cũ môi mềm vấn vương…

Mưa thu còn đọng bên thềm…
Em nghiêng nón lá làm duyên không lời…..
Hạ tàn con nước chơi vơi ..
Cò bay bỏ lại lưng trời mùa thu…

Ngày đi quán lạ bên đường…
Còn vương chút nắng hơi sương xa vời…
Ai đem tặng một nụ cười…
Ô hay! Tình lạ bất ngờ như quen….

06.09.2026
(Lưu Giang)

Nếu Khung cửa sổ… là một khoảng lặng của nhớ thương, Rừng khuya là hành trình đi qua cô đơn để tìm thấy “yêu thương đong đầy”, thì Tản mạn ngày thu của Lưu Giang lại mở ra một không gian khác: mùa thu của gió heo may, mưa bên thềm, nón lá, con nước, cánh cò và một nụ cười bất chợt. Ở đó, cảnh vật không đứng yên mà luôn có sự chuyển động của ký ức và cảm xúc. Mười hai câu thơ như những nét phác nhanh, tưởng “tản mạn” mà thực ra được kết nối bởi một sợi chỉ rất tinh tế: nỗi chênh chao của lòng người trước mùa thu và trước một cuộc gặp gỡ mang màu sắc duyên tình.

Ngay câu mở đầu:

“Gió heo may thổi qua ghềnh…

Tóc mây vương sợi tơ tình qua đêm…”

“Gió heo may” là tín hiệu quen thuộc của mùa thu phương Bắc, nhưng khi đi qua “ghềnh”, nó không còn chỉ là thứ gió se lạnh của thời tiết mà trở thành một tác nhân đánh thức cảm xúc. Đặc biệt, hình ảnh “tóc mây” mang màu sắc lãng mạn. Tóc vốn đã gắn với vẻ đẹp của người thiếu nữ; “tóc mây” lại càng mềm mại, bồng bềnh. Nhưng điều đáng chú ý nằm ở cụm từ “vương sợi tơ tình”. “Tơ” vừa là vật chất mảnh mai, vừa là ẩn dụ quen thuộc cho tình cảm. Một sợi tơ rất mỏng nhưng có thể khiến lòng người vương vấn. Chỉ một chữ “vương”, tác giả đã diễn tả được cái tình vừa chạm tới mà chưa thể gọi thành tên.

Và rồi:

“Tôi ngồi đếm những chông chênh.

Ghe hương ngày cũ môi mềm vấn vương…”

“Chông chênh” là trạng thái rất đặc trưng của tâm hồn khi đứng giữa những điều chưa rõ ràng. Không phải buồn hẳn, cũng chưa phải vui trọn vẹn; đó là cảm giác lòng người đang dao động. Cái hay của câu thơ là tác giả không nói “tôi nhớ”, “tôi buồn”, mà dùng “đếm những chông chênh”. Cách diễn đạt ấy khiến cảm xúc trở nên hữu hình, như thể những xao động trong lòng có thể đếm được.

Câu thơ “Ghe hương ngày cũ môi mềm vấn vương…” lại đưa người đọc vào một vùng ký ức giàu cảm giác. “Hương” vốn không có hình dáng, nhưng lại là thứ dễ đánh thức kỷ niệm nhất. “Môi mềm” mang sắc thái tình tứ, song không quá trực diện; nó nằm trong mạch hồi tưởng, tạo nên một vẻ đẹp vừa kín đáo vừa gợi cảm. Có thể nói, tác giả đang dùng khứu giác và xúc giác để gọi dậy ký ức, khiến tình cảm trong thơ có độ gần gũi của một kỷ niệm từng hiện hữu.

Nếu những câu đầu thiên về tâm trạng thì đến đây, mùa thu hiện ra rõ hơn:

“Mưa thu còn đọng bên thềm…

Em nghiêng nón lá làm duyên không lời…..”

Đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất của bài. “Mưa thu” chỉ còn “đọng bên thềm”, nghĩa là cơn mưa đã qua nhưng dấu vết vẫn còn. Cũng như tình cảm: một cuộc gặp có thể ngắn, một khoảnh khắc có thể thoáng qua, nhưng dư âm thì ở lại.

Hình ảnh “em nghiêng nón lá” đặc biệt gợi chất Việt. Chiếc nón lá vốn là một hình ảnh quen thuộc trong đời sống và văn chương Việt Nam. Nhưng ở đây, cái duyên không nằm ở chiếc nón mà nằm ở động tác “nghiêng”. Không cần lời nói, không cần một lời tỏ tình, chỉ một cử chỉ nhỏ cũng đủ tạo nên “duyên không lời”. Đây chính là cái duyên của sự kín đáo: không nói mà vẫn gợi; không hẹn mà vẫn nhớ.

Đến hai câu:

“Hạ tàn con nước chơi vơi ..

Cò bay bỏ lại lưng trời mùa thu…”

không gian thơ mở rộng từ “bên thềm” ra sông nước và bầu trời. “Hạ tàn” báo hiệu sự chuyển mùa; “con nước chơi vơi” lại mang tâm trạng của con người. Cảnh vật được nhân hóa bằng cảm giác “chơi vơi”, khiến ranh giới giữa ngoại cảnh và nội tâm gần như tan biến.

Hình ảnh “cò bay” tiếp tục mang âm hưởng đồng quê. Cánh cò vốn là biểu tượng quen thuộc trong ca dao, dân ca Việt Nam. Nhưng “cò bay bỏ lại lưng trời mùa thu” lại tạo một liên tưởng khá đẹp: cánh cò đi qua, mùa thu ở lại; hay cũng có thể là con người đi qua một miền ký ức, để lại phía sau một khoảng trời không thể gọi tên.

Hai câu cuối chuyển bài thơ từ hồi tưởng sang hiện tại:

“Ngày đi quán lạ bên đường…

Còn vương chút nắng hơi sương xa vời…”

“Quán lạ bên đường” là một không gian rất đời thường. Nhưng chính những nơi tưởng như vô tình ấy đôi khi lại trở thành điểm gặp gỡ của những tâm hồn. “Chút nắng”, “hơi sương” tiếp tục là những dấu hiệu mong manh của mùa thu, đồng thời cũng là những mảnh ký ức. Chữ “vương” một lần nữa xuất hiện, tạo sự liên kết với “tơ tình” và “môi mềm vấn vương” ở đầu bài. Tình cảm vì thế không được nói thẳng, mà cứ nhẹ nhàng bám lại qua hình ảnh.

Và rồi bài thơ bất ngờ bật sáng ở câu kết:

“Ai đem tặng một nụ cười…

Ô hay! Tình lạ bất ngờ như quen…..”

Nếu không có câu thơ này, Tản mạn ngày thu có thể chỉ dừng lại ở một bài thơ hoài niệm về mùa thu và một bóng hình. Nhưng “nụ cười” đã mở ra một hướng khác: tình cảm có thể bắt đầu từ một điều rất nhỏ bé.

“Nụ cười” không phải lời hứa, không phải lời tỏ tình, thậm chí có thể chỉ là một khoảnh khắc tình cờ. Thế nhưng nó khiến một “tình lạ” trở nên “như quen”. Cách dùng từ “Ô hay!” rất đời thường, có chút ngạc nhiên, hồn nhiên, khiến câu thơ bớt đi vẻ trữ tình ước lệ và trở nên gần gũi. Chính cái bất ngờ ấy làm cho đoạn kết có duyên.

Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật ở cách sử dụng hình ảnh giàu tính gợi cảm và giàu bản sắc văn hóa Việt: “gió heo may”, “tóc mây”, “mưa thu”, “nón lá”, “con nước”, “cò bay”, “quán lạ”. Tác giả vận dụng khá tự nhiên các thủ pháp ẩn dụ, nhân hóa, tả cảnh ngụ tình và liên tưởng. Đặc biệt, trường từ vựng về sự mong manh – “vương”, “tơ”, “chông chênh”, “chơi vơi”, “chút”, “hơi sương”, “nụ cười” – tạo nên một chất thơ mềm và nhẹ.

Nhưng dưới vẻ lãng mạn ấy vẫn có một lớp nghĩa nhân sinh. Con người không phải lúc nào cũng gặp nhau trong những hoàn cảnh được chuẩn bị trước. Có khi một cuộc gặp chỉ bắt đầu từ một ánh nhìn, một cử chỉ, một nụ cười. Có những người mới gặp mà đã thấy thân quen; có những khoảnh khắc rất ngắn nhưng lại đủ để làm nên một kỷ niệm dài lâu. Bởi thế, bài thơ cũng như một lời nhắc: hãy biết mở lòng trước những điều đẹp đẽ bất ngờ mà cuộc sống trao tặng.

Tản mạn ngày thu vì thế không chỉ là câu chuyện về một mùa. Đó còn là câu chuyện về cái duyên của con người với con người, về ký ức và những rung động rất đỗi mong manh. Mùa thu trong thơ Lưu Giang có gió heo may, có mưa bên thềm, có cánh cò nơi lưng trời; nhưng điều làm mùa thu ở lại lâu nhất có lẽ không phải cảnh vật, mà chính là một nụ cười.

Và câu thơ “Ô hay! Tình lạ bất ngờ như quen…..” chính là cái khép mở rất có duyên của tác phẩm. Nó để lại cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng: giữa dòng đời rộng dài, đôi khi hạnh phúc không đến bằng những điều lớn lao. Nó có thể chỉ là một nụ cười tình cờ gặp giữa một ngày thu – nhưng đủ khiến một người đang “đếm những chông chênh” bỗng nhận ra trong lòng mình đã có thêm một chút ấm áp, một chút vấn vương./.

               ẢNH NHÀ THƠ VÀ NGƯỜI VIẾT LỜI BÌNH:

“Tản mạn ngày thu” của Lưu Giang – Khi mùa thu đi qua, để lại một nụ cười
Ký hoạ chân dung nhà thơ Lưu Giang. Ảnh: Lưu Giang cung cấp
“Tản mạn ngày thu” của Lưu Giang – Khi mùa thu đi qua, để lại một nụ cười
Chân dung Nguyễn Bá Nha. Ảnh: Đam Books

                                                           

                                                                   

error: Content is protected !!