Mái trường xưa – Một thời áo lính

Mái trường xưa – Một thời áo lính
Tranh minh họa: Bá Nha ứng dụng AI phối cảnh

KÝ ỨC THÁNG TƯ

(Trường Cấp 3 Trấn Yên – Yên Bái (Nay là Trường Lê Quý Đôn – Lào Cai)

                                                Thơ: NGUYỄN ĐẠI HẢI

Ngày tôi đi lên đường nhập ngũ

Chan chứa lời nhắn nhủ kẻ ở người đi

Lên đường ra trận, bỏ dở lại bài thi

Bởi vận nước đang trên đường tới

Hòa bình này, chờ đợi đã rất lâu

Chúng tôi đi, sao mũ ở trên đầu

Trái tim đỏ ngay bên ngực trái

Lớp còn lại toàn là con gái

Trống chỗ nhiều, chỗ của các bạn trai

Họ đang sải những bước dài ra trận

Rầm rập quân đi, ào ào sóng cuộn

Để độc lập tự do, đất nước hòa bình

Trong chiều dài của cuộc trường trinh

Sẽ có cả những hi sinh mất mát

Để hôm nay cất cao tiếng hát

Giữa đất trời bát ngát tự do

Trong đoàn quân có cả thầy trò

Trường Cấp 3 Trấn Yên – Năm ấy

Tạm gác bút nghiên – cầm súng như thế đấy

Ngày lên đường đã qua vụ cấy

Lúa đã lên đòng cho hạt mẩy nặng bông

Lớp vắng nhiều nên chẳng còn đông

Cả khối 10 giờ chỉ còn một lớp

Khắp miền nam lửa súng chớp đầu nòng

Tất cả cùng vùng dậy xung phong

Và dân tộc đã làm nên lịch sử

Một thời kỳ hào hùng bất tử

Dưới mái trường thầy cô dạy chữ

Lớn thành người biết cầm súng giữ quê hương

Biết yêu thương bởi từ dưới mái trường

Học làm người và yêu Tổ quốc

Hòa bình rồi trong dòng đời xuôi ngược

Ta trở về đây để gặp lại cô, thầy

Ký ức tuổi xuân một thời sống dậy

Nhìn mái trường ta bỗng thấy yêu hơn

Học để rồi, yêu Tổ quốc giang sơn

Học để rồi, biết căm thù quân xâm lược

Đất nước hòa bình thỏa mong ước bấy lâu

Vinh quang thay – Sao mũ ở trên đầu

Sài Gòn: tháng 4-2026

Mái trường xưa – Một thời áo lính
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Đại Hải: Có ứng dụng AI

 

 Lời bình: BÁ NHA

MÁI TRƯỜNG XƯA, MỘT THỜI ÁO LÍNH

(Lời bình bài thơ “Ký ức tháng Tư” của Nguyễn Đại Hải)

Có những cuộc trở về không chỉ để gặp lại thầy cô, bạn cũ, mà còn để gặp lại chính mình trong một thời tuổi trẻ đã đi qua chiến tranh. Với người lính năm xưa, mái trường không đơn thuần là nơi lưu giữ kỷ niệm, mà còn là điểm khởi đầu của những bước chân ra trận, nơi hun đúc tình yêu quê hương, đất nước. Bài thơ “Ký ức tháng Tư” của cựu chiến binh Nguyễn Đại Hải gợi lại một thời như thế qua hình ảnh Trường Cấp 3 Trấn Yên – nay là Trường Lê Quý Đôn, Lào Cai – cùng những học trò từng gác bút nghiên lên đường nhập ngũ.

Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã đưa người đọc trở về thời khắc chia tay đầy lưu luyến:

“Ngày tôi đi lên đường nhập ngũ

Chan chứa lời nhắn nhủ kẻ ở người đi

Lên đường ra trận, bỏ dở lại bài thi

Bởi vận nước đang trên đường tới”

“Bỏ dở lại bài thi” là một chi tiết đời thường mà giàu sức gợi. Phía sau người lên đường là trang vở chưa khép, ước mơ chưa trọn và những tháng ngày học trò dang dở. Nhưng trước vận mệnh đất nước, dự định riêng đành nhường chỗ cho trách nhiệm chung. Cuộc chia tay vì thế còn là hình ảnh tiêu biểu cho một thế hệ sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ khi Tổ quốc cần.

Người lính hiện lên qua hai câu thơ ngắn gọn:

“Chúng tôi đi, sao mũ ở trên đầu

Trái tim đỏ ngay bên ngực trái”

“Sao mũ” gợi dáng vóc người lính; “trái tim đỏ” tượng trưng cho nhiệt huyết, niềm tin và lý tưởng. Hai hình ảnh vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa biểu tượng, khắc họa những chàng trai vừa rời ghế nhà trường đã bước vào cuộc trường chinh với sự hồn nhiên của tuổi trẻ và quyết tâm của người ra trận.

Đặc biệt, câu thơ “Lớp còn lại toàn là con gái” khiến ký ức chiến tranh hiện lên qua một khoảng trống bình thường mà nhói lòng. Những chỗ ngồi thiếu vắng bạn trai cho thấy chiến tranh đã đi vào từng mái trường, từng trang đời. Phía sau những bước quân đi là những người ở lại tiếp tục học tập, chờ đợi và gửi gắm niềm tin. Không cần kể nhiều về chia ly, tác giả vẫn gợi được cái giá của chiến tranh đối với tuổi trẻ.

Từ ký ức lớp học, bài thơ mở rộng ra chiều dài lịch sử:

“Trong chiều dài của cuộc trường chinh

Sẽ có cả những hi sinh mất mát

Để hôm nay cất cao tiếng hát

Giữa đất trời bát ngát tự do”

Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng tuổi xuân, máu xương và những cuộc chia xa của biết bao thế hệ. Tác giả không sa vào bi thương, mà nhìn quá khứ từ điểm nhìn của hiện tại thanh bình, nhấn mạnh ý nghĩa của những hy sinh làm nên độc lập, tự do.

Một nét riêng của “Ký ức tháng Tư” là sự gắn kết giữa mái trường và lịch sử dân tộc:

“Trong đoàn quân có cả thầy trò

Trường Cấp 3 Trấn Yên – Năm ấy

Tạm gác bút nghiên – cầm súng như thế đấy”

Hai chữ “thầy trò” đem đến cho bài thơ sắc thái xúc động. Mái trường vốn là nơi truyền dạy tri thức, nuôi dưỡng ước mơ và hình thành nhân cách; khi đất nước lâm nguy, những con người trưởng thành từ mái trường ấy lại cùng bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương. “Tạm gác bút nghiên” gợi sự dang dở, nhưng cũng cho thấy bài học về lòng yêu nước và trách nhiệm đã theo người học trò vào chiến trường.

Ký ức còn được neo giữ bằng một chi tiết thấm đẫm hơi thở làng quê:

“Ngày lên đường đã qua vụ cấy

Lúa đã lên đòng cho hạt mẩy nặng bông”

Nhịp mùa vụ đưa chiến tranh về với đời sống bình dị. Lúa lên đòng, cánh đồng chờ ngày trổ hạt, nhưng những người trai trẻ đã rời quê hương. Hình ảnh ấy vừa chân thực vừa giàu sức gợi: người lính ra đi cũng chính là để bảo vệ mái nhà, đồng ruộng, mùa lúa chín và cuộc sống yên lành của nhân dân. Đằng sau lý tưởng lớn lao là tình yêu những điều gần gũi nhất.

Chi tiết “Cả khối 10 giờ chỉ còn một lớp” tiếp tục khắc sâu dấu vết chiến tranh. Từ sự thưa vắng trong trường học, người đọc cảm nhận những cuộc chia tay và sự hy sinh của cả một thế hệ rời ghế nhà trường để góp sức vào cuộc đấu tranh giành độc lập.

Sau những năm tháng ấy, niềm xúc động lắng lại trong cuộc trở về:

“Hòa bình rồi trong dòng đời xuôi ngược

Ta trở về đây để gặp lại cô, thầy

Ký ức tuổi xuân một thời sống dậy

Nhìn mái trường ta bỗng thấy yêu hơn”

Trở về trường cũ là trở về nguồn cội tinh thần, nơi mỗi người từng được dạy chữ, học làm người và nuôi dưỡng ước mơ. Thầy cô, bạn học, mái trường có thể đổi thay theo năm tháng, nhưng tình cảm tuổi trẻ vẫn còn nguyên sức lay động. Cuộc hội ngộ không chỉ khơi dậy nỗi nhớ, mà còn là dịp tri ân những người đã góp phần hình thành nhân cách mỗi người.

Hai câu thơ “Học để rồi, yêu Tổ quốc giang sơn / Học để rồi, biết căm thù quân xâm lược” thể hiện mối liên hệ giữa giáo dục và trách nhiệm công dân. Học không chỉ để có tri thức, mà còn để hiểu giá trị độc lập, biết yêu thương và sống có trách nhiệm với quê hương. Trong thời bình, tinh thần ấy tiếp tục được thể hiện bằng lao động, cống hiến và ý thức gìn giữ thành quả của các thế hệ đi trước.

Hình ảnh “Sao mũ ở trên đầu” trở lại ở cuối bài, nối ngày lên đường với cuộc trở về sau chiến tranh. Ngôi sao trên mũ người lính không chỉ gợi niềm tự hào mà còn nhắc nhớ về trách nhiệm, sự cống hiến cho Tổ quốc.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, ngôn ngữ gần lời kể, giọng điệu chân thành, giàu chất hồi tưởng. Những chi tiết như bài thi bỏ dở, lớp học vắng bạn trai, mùa lúa lên đòng và cuộc gặp lại thầy cô giúp ký ức lịch sử hiện lên gần gũi, giàu sức gợi. Dẫu một số câu còn thiên về kể, sự mộc mạc ấy vẫn phù hợp với tiếng lòng của người cựu chiến binh muốn lưu giữ những điều không thể quên.

“Ký ức tháng Tư” là lời tri ân một thế hệ học trò trưởng thành giữa những năm tháng gian lao, đồng thời nhắc nhớ công lao thầy cô và giá trị hòa bình. Những người trẻ năm ấy đã rời trang sách để lên đường, nhưng bài học từ mái trường vẫn theo họ suốt cuộc đời. Để hôm nay, khi trở về chốn cũ, mỗi người càng thấm thía rằng tình yêu Tổ quốc bắt đầu từ những điều bình dị và được chứng minh bằng cách sống có trách nhiệm với quê hương, đất nước./.

BÁ NHA

                                                             

                                                                  

 

error: Content is protected !!