Một kiếp đàn bà, một miền khát vọng

 

 HOÁ THÂN  EM

Thơ: Phượng Hồng (Tên thật Phạm Thị Thu Hà ở Hải Phòng)

 

Nếu kiếp sau, lại xin kiếp đàn bà

Như hoa đẹp mặn mà bay trong gió

Tỏa hương sắc say hồn chàng lãng tử

Gửi ngọt ngào như hoa cỏ mùa thu

 

Nếu được hoá thân em kiếp đàn bà

Là cung đàn phiêu du con đường cũ

Là xót xa gửi trao men ủ rũ

Cách hoa tàn lãng tử bạc phôi pha

 

Nếu ước ao em vẫn ước thật mà

Làm  đàn bà lúc nguy nga Tùng Cúc

Lúc thăng trầm mảnh mai đời nhịn nhục

Lúc u uất buồn thấm đẫm Trúc Mai

 

Em muốn mang hạnh phúc mai này

Gửi chân tình một bóng hình thanh khiết

Đôi mắt ai đã một lần được biết

Khổ ải thăng trầm nhận biết trả – vay

 

Em muốn chuốc  cạn chén tình say

Nhận về bao đắng cay đời cơ cực

Tấm thân mình càng tăng thêm nghị lực

Chẳng phù điêu nặng nhiều nỗi cơ cầu

 

Thân gửi thân mình đi mãi về đâu

Sao cơ cầu biết cho đi  được mất

Biết yêu người bằng con tim rất thật

Mặc nhận  về thay đổi…. cay đắng cay.

 

MỘT KIẾP ĐÀN BÀ, MỘT MIỀN KHÁT VỌNG

Lời bình: Nguyễn Bá Nha – Cử nhân Việt Nam học
Chủ tịch Đam Books Media

 

Có những bài thơ viết về người phụ nữ bằng vẻ đẹp nhan sắc, cũng có những bài đi sâu vào vui buồn, được mất và những hy sinh âm thầm của một kiếp người. “Hóa thân em” của nữ nhà thơ Phượng Hồng (Phạm Thị Thu Hà ở Hải Phòng) thuộc về mạch cảm xúc ấy. Qua hình tượng người đàn bà, tác giả gửi vào câu chữ những suy ngẫm về thân phận, nghị lực và khát vọng yêu thương.

Mở đầu bài thơ tác giả đã thể hiện hai câu thơ, tạo một điểm tựa đặc biệt:

“Nếu kiếp sau, lại xin kiếp đàn bà

Như hoa đẹp mặn mà bay trong gió”

Một lời ước nguyện tưởng như nghịch lý: đã biết đời đàn bà nhiều nhọc nhằn mà vẫn “xin kiếp đàn bà”. Nhưng chính nghịch lý ấy làm bật lên chiều sâu tình cảm của nhân vật trữ tình: vẫn muốn được sống, được yêu và trao gửi những gì đẹp nhất của tâm hồn.

Hình ảnh “hoa” là một ẩn dụ quen thuộc mà giàu sức gợi. Hoa đẹp, có hương sắc nhưng mong manh trước gió. Người đàn bà cũng vậy: có vẻ đẹp, tình yêu, khát vọng, nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng dịu dàng.

“Tỏa hương sắc say hồn chàng lãng tử

Gửi ngọt ngào như hoa cỏ mùa thu”

Những câu thơ đậm chất lãng mạn. Người đàn bà không chỉ muốn được yêu mà còn muốn trao tặng. “Tỏa hương sắc”, “gửi ngọt ngào” cho thấy tình yêu không phải sự sở hữu mà là sự dâng hiến – một vẻ đẹp giàu nữ tính và chân thành.

Nếu khổ đầu là khát vọng thì khổ tiếp theo đã xuất hiện sắc thái trải nghiệm:

“Nếu được hoá thân em kiếp đàn bà

Là cung đàn phiêu du con đường cũ

Là xót xa gửi trao men ủ rũ

Cách hoa tàn lãng tử bạc phôi pha”

Điệp cấu trúc “Nếu…”, “Là…” tạo nhịp suy tưởng. “Cung đàn”, “con đường cũ”, “hoa tàn”, “lãng tử bạc phôi pha” đưa người đọc vào một thế giới hoài niệm, nơi cái đẹp đã đi cùng sự phai tàn.

Đặc biệt, “hoa tàn” gợi quy luật của thời gian: nhan sắc và tuổi trẻ có thể qua đi, nhưng những gì con người trao bằng tình yêu và sự chân thành thì không dễ mất.

Những hình ảnh Tùng, Cúc, Trúc, Mai tiếp tục mở ra lớp nghĩa văn hóa phương Đông:

“Làm đàn bà lúc nguy nga Tùng Cúc

Lúc thăng trầm mảnh mai đời nhịn nhục

Lúc u uất buồn thấm đẫm Trúc Mai”

Tùng, Cúc, Trúc, Mai vốn là những biểu tượng quen thuộc của mỹ học Á Đông, gợi phẩm chất, khí tiết và vẻ đẹp thanh cao. Đưa những hình tượng ấy vào bài thơ, tác giả nâng người phụ nữ từ vẻ đẹp hình thể lên phẩm chất và cốt cách. Chất văn hóa vì thế không nằm ở điển tích, mà trong cách những biểu tượng truyền thống được soi chiếu qua tâm trạng người phụ nữ hôm nay.

Khát vọng ấy tiếp tục được đẩy lên:

“Em muốn mang hạnh phúc mai này

Gửi chân tình một bóng hình thanh khiết”

Hai chữ “chân tình” là điểm nhấn. Sau mọi sắc màu của tình yêu, điều nhân vật trữ tình muốn giữ lại không phải vẻ đẹp phù hoa mà là sự chân thành.

Nhưng cuộc đời không chỉ có hạnh phúc:

“Khổ ải thăng trầm nhận biết trả – vay

Em muốn chuốc cạn chén tình say

Nhận về bao đắng cay đời cơ cực”

“Nhận – trả”, “được – mất”, “đắng cay”, “khổ ải” khiến mạch thơ đậm màu suy tưởng. Thấp thoáng ở đây là quan niệm dân gian và phương Đông về duyên, nghiệp, nhân – quả. Tuy nhiên, tác giả không dừng ở than thân:

“Tấm thân mình càng tăng thêm nghị lực

Chẳng phù điêu nặng nhiều nỗi cơ cầu”

Từ một người mong manh như hoa, nhân vật trữ tình trở thành một con người có nghị lực. Những đắng cay không chỉ làm đau mà còn rèn luyện sức mạnh nội tâm. Cái đẹp của người phụ nữ vì thế được nâng từ “hương sắc” lên vẻ đẹp của khả năng chịu đựng và tiếp tục sống.

Hai câu cuối là một lời tự vấn:

“Biết yêu người bằng con tim rất thật

Mặc nhận về thay đổi…. cay đắng cay.”

Câu thơ bỏ ngỏ, nhưng sự lựa chọn thì rõ ràng: vẫn yêu bằng “con tim rất thật”. Đó chính là chiều sâu nhân sinh của tác phẩm: giữa được – mất, điều con người có thể giữ lại là sự chân thành của mình.

Về nghệ thuật, “Hóa thân em” nổi bật ở hệ thống hình ảnh biểu tượng và các điệp cấu trúc “nếu”, “là”, “em muốn”, tạo dòng độc thoại nội tâm giàu cảm xúc. Hoa, cung đàn, Tùng – Cúc – Trúc – Mai, chén tình, con tim được xâu chuỗi thành thế giới vừa lãng mạn vừa suy tư. Ngôn ngữ thơ trực tiếp, mềm mại, mang dáng dấp lời tự sự của một người phụ nữ đang đối thoại với chính mình.

Và có lẽ điều đẹp nhất bài thơ để lại là cách người phụ nữ nhìn nhận kiếp sống nhân sinh của mình: biết nhọc nhằn vẫn muốn yêu, biết đắng cay vẫn muốn trao đi, biết hoa sẽ tàn mà vẫn muốn nở hết sắc hương.

Bởi sau tất cả, “Hóa thân em” không chỉ là lời ước về một kiếp đàn bà, mà còn là lời khẳng định về quyền được yêu, được sống chân thành và giữ lấy phẩm giá giữa những đổi thay của cuộc đời. Một kiếp người có thể nhiều “cơ cầu”, nhưng nếu vẫn biết trao đi bằng một trái tim thật, điều còn lại có lẽ chính là sự thanh khiết của tình yêu và nghị lực của một tâm hồn ./.

 

                                                                  Bá Nha

 

error: Content is protected !!