
NGẮM CẢNH NHỚ NGƯỜI
Nguyễn Duy Thuyên (Kiều bào Đức)
Thiên nhiên tạo hóa trời ban
Non cao nước biếc hân hoan hồn người
Thơ tình viết mãi không ngơi
Càng đi càng thấy cuộc đời thêm yêu
Xa xa rặng núi lam chiều
Con tàu lướt sóng bao điều vấn vương
Ra đi nhớ cảnh đời thường
Cơm rau muống luộc chấm tương cùng cà
Bóng hình cha mẹ sinh ta
Một thời thơ ấu nay đà vẫn ghi
Xóm nghèo nhớ buổi ra đi
Cha nhìn theo mãi muốn gì gửi trao
Nhà nghèo chẳng có là bao
Mấy câu cha dặn mà sao nặng tình
Đến giờ nó vẫn còn linh
Động cơ thúc đẩy cho mình vươn lên
Công ơn chưa kịp đáp đến
Người về chín suối cõi tiên niết bàn
Mấy dòng ơn đức con mang
Nay nhìn cảnh đẹp mơ màng nhớ thương./.
30.05.2025

“Ngắm cảnh để nhớ người” – từ cảnh sắc quê hương đến nghĩa tình cha mẹ
Lời bình: Nguyễn Bá Nha
Có những bài thơ bắt đầu từ một cảnh đẹp rồi dừng lại ở cảm xúc trước thiên nhiên. Nhưng cũng có những bài thơ, từ một thoáng ngắm cảnh, lại mở ra cả một miền ký ức của đời người. Ngắm cảnh nhớ người của Nguyễn Duy Thuyên là một bài thơ như thế. Không cầu kỳ trong câu chữ, tác giả đi từ “non cao nước biếc”, từ rặng núi, con tàu lướt sóng để trở về với một miền ký ức thân thương: quê nghèo, bữa cơm đạm bạc và trên hết là bóng hình cha mẹ – những người đã cho mình hình hài, nuôi mình khôn lớn và để lại những lời dặn theo con suốt cuộc đời. Cảnh trong thơ vì thế không chỉ để ngắm, mà còn là chiếc cầu nối hiện tại với quá khứ, nối người đang đi xa với mái nhà nghèo và những bậc sinh thành nay đã khuất.
Ngay từ những câu thơ đầu, cảm xúc trước thiên nhiên được mở ra khá tự nhiên:
“Thiên nhiên tạo hóa trời ban
Non cao nước biếc hân hoan hồn người”.
Non cao, nước biếc, rặng núi, con tàu lướt sóng tạo nên một không gian khoáng đạt, khiến lòng người “hân hoan”, thêm yêu cuộc sống. Nhưng niềm vui trước cảnh đẹp không khép lại trong hiện tại. Càng nhìn cảnh, nhân vật trữ tình càng bị ký ức níu giữ:
“Xa xa rặng núi lam chiều
Con tàu lướt sóng bao điều vấn vương
Ra đi nhớ cảnh đời thường…”
“Rặng núi lam chiều”, “con tàu lướt sóng” không chỉ là những hình ảnh của cảnh vật trước mắt. Qua tâm hồn người xa quê, chúng trở thành những tín hiệu đánh thức ký ức. Hai chữ “vấn vương” khiến cảnh không còn đơn thuần là cảnh. Trong cái đẹp của thiên nhiên có bóng dáng của những ngày đã qua; trong bước chân người đang đi có sự níu giữ của một miền quê không dễ rời xa.
Vì thế, từ “ngắm cảnh”, bài thơ chuyển sang “nhớ người”. Và “người” trong chiều sâu cảm xúc của tác giả chính là cha mẹ – những người đã hiện diện trong tuổi thơ, trong bữa cơm nghèo, trong buổi tiễn con lên đường và trong những lời dặn dò theo con đến tận hôm nay.
Khi nhớ về quê nhà, tác giả không tìm đến những hình ảnh sang trọng mà nhớ một bữa cơm rất đỗi bình dị: “Cơm rau muống luộc chấm tương cùng cà”. Chỉ một câu thơ mà cả một không gian gia đình, một thời nghèo khó như hiện về. Rau muống, tương, cà vốn là những món ăn dân dã, nhưng trong ký ức của người đi xa, đó lại là hương vị của quê hương, của mái nhà và của tuổi thơ.
Cái hay nằm chính ở sự giản dị. Đôi khi quê hương không phải là một khái niệm lớn lao, mà chỉ là một bữa cơm nghèo, một mái nhà đơn sơ, một tiếng gọi thân quen. Và trong ký ức ấy, quê hương dường như không thể tách rời hình bóng cha mẹ.
Từ bữa cơm quê, ký ức đưa người con trở về với những người đã sinh thành:
“Bóng hình cha mẹ sinh ta
Một thời thơ ấu nay đà vẫn ghi”.
Hai chữ “cha mẹ” tuy giản dị nhưng có sức lay động đặc biệt. Người con đã trưởng thành, đã rời quê, đã đi qua nhiều cảnh sắc của cuộc đời, nhưng “một thời thơ ấu” vẫn còn nguyên dấu ấn. Càng đi xa, những điều tưởng như bình thường của tuổi nhỏ lại càng trở nên quý giá.
Đáng nhớ nhất là hình ảnh người cha trong buổi tiễn con lên đường:
“Xóm nghèo nhớ buổi ra đi
Cha nhìn theo mãi muốn gì gửi trao”.
Một khoảnh khắc rất đời thường nhưng đầy ám ảnh. Người con ra đi, người cha đứng nhìn theo. Không có lời tiễn biệt dài dòng, chỉ có ánh mắt và một điều gì đó “muốn gửi trao”. Chính sự không nói hết ấy lại tạo nên dư âm. Tình cha trong bài thơ không ồn ào mà lặng lẽ; không hiện lên bằng những lời yêu thương trực tiếp mà bằng ánh mắt dõi theo, bằng sự lo lắng và những lời căn dặn dành cho đứa con bước vào đời.
Nếu ánh mắt của người cha là hình ảnh của một khoảnh khắc, thì lời cha dặn lại trở thành hành trang theo con suốt cuộc đời:
“Nhà nghèo chẳng có là bao
Mấy câu cha dặn mà sao nặng tình”.
Đây có lẽ là hai câu thơ mộc mạc nhưng có sức nặng nhất trong bài. Gia đình nghèo, vật chất chẳng có gì nhiều để trao cho con, nhưng người cha đã trao một thứ quý hơn: niềm tin, lời dặn và nghị lực sống. “Mấy câu cha dặn” tưởng nhẹ mà “nặng tình”, bởi đó là hành trang tinh thần của một người con khi bước vào đời.
Từ ký ức, lời cha dặn trở thành động lực: “Động cơ thúc đẩy cho mình vươn lên”. Câu thơ diễn đạt trực tiếp, không trau chuốt, nhưng lại nói được một điều sâu sắc: phía sau sự trưởng thành của mỗi con người nhiều khi là bóng dáng cha mẹ và những điều họ đã âm thầm gửi gắm.
Cha mẹ có thể không để lại cho con tài sản lớn lao. Một mái nhà nghèo, một bữa cơm đạm bạc, vài lời căn dặn – tưởng như chẳng có gì nhiều. Nhưng qua năm tháng, chính những điều bình dị ấy lại trở thành sức mạnh nâng đỡ con người đi qua cuộc đời.
Cảm xúc vì thế chuyển từ nhớ sang biết ơn, nhưng sự biết ơn ấy pha lẫn nỗi đau khi người con nhận ra mình không còn cơ hội báo đáp:
“Công ơn chưa kịp đáp đến
Người về chín suối cõi tiên niết bàn”.
Cha đã đi xa, người con ở lại với món nợ ân tình chưa kịp trả. Những hình ảnh “chín suối”, “cõi tiên niết bàn” mang sắc thái tâm linh, như một cách người con tự an ủi rằng người đã khuất đã về miền thanh thản. Nhưng càng muốn thanh thản, nỗi nhớ dường như càng sâu.
Bởi điều day dứt nhất không chỉ là mất đi một người thân, mà còn là những điều muốn nói, muốn làm cho cha mẹ nhưng thời gian không cho phép nữa. Khi cha mẹ còn sống, nhiều khi ta xem những bữa cơm, những lời dặn dò, những ánh mắt chờ đợi là điều bình thường. Đến khi người đã đi xa, chính những điều bình thường ấy lại trở thành ký ức quý giá nhất.
Khép lại bài thơ là một sự trở về trong tâm tưởng:
“Mấy dòng ơn đức con mang
Nay nhìn cảnh đẹp mơ màng nhớ thương”.
Cảnh đẹp ở đầu bài và cảnh đẹp ở cuối bài tạo thành một vòng tròn cảm xúc. Ban đầu, thiên nhiên làm con người hân hoan trước cuộc sống; đến cuối, cũng chính thiên nhiên đánh thức “ơn đức” và nỗi nhớ. Nhìn cảnh mà nhớ người, nhìn hiện tại mà nhớ quá khứ, đứng giữa một không gian rộng lớn mà lòng lại trở về một mái nhà nghèo – đó chính là vẻ đẹp nhân văn của bài thơ.
Về nghệ thuật, Ngắm cảnh nhớ người được viết bằng thể thơ lục bát với cách biểu đạt chân phương, gần với lời tâm sự. Ngôn ngữ chủ yếu là những hình ảnh đời thường, dễ hiểu, không thiên về kỹ thuật tu từ cầu kỳ. Chính sự mộc mạc ấy phù hợp với nội dung hồi tưởng và tình cảm gia đình mà tác giả muốn gửi gắm.
Mạch thơ vận động tự nhiên: từ thiên nhiên đến quê nhà, từ quê nhà đến tuổi thơ, từ tuổi thơ đến cha mẹ, từ hình bóng người cha đến những lời dặn, rồi từ lời dặn đến sự trưởng thành và lòng biết ơn. Đó giống như một dòng hồi ức, càng đi càng sâu vào những điều thân thuộc nhất của đời người.
Có thể nói, điều đọng lại sau Ngắm cảnh nhớ người không chỉ là một bức tranh thiên nhiên, mà là bóng dáng của những bậc sinh thành trong một mái nhà nghèo; đặc biệt là người cha đứng bên xóm nhỏ nhìn theo bước chân con. Cảnh đẹp chỉ là điểm khởi đầu; đích đến của bài thơ là tình thân, là ơn cha nghĩa mẹ.
Càng đi xa, càng trưởng thành, con người càng thấm thía rằng có những điều tưởng rất bình thường của tuổi thơ – một bữa cơm rau muống chấm tương cà, một ánh mắt tiễn đưa, vài câu cha dặn – lại trở thành những tài sản tinh thần không gì thay thế được. Bởi vậy, bài thơ của Nguyễn Duy Thuyên tuy mộc mạc mà gợi một điều rất gần gũi: trong hành trình đi về phía tương lai, có những lời cha mẹ dặn vẫn âm thầm đi cùng ta.
Quê hương có thể ở rất xa, cha mẹ có thể đã về miền xa khuất, nhưng tình yêu và ơn nghĩa của những người đã sinh thành vẫn còn đó-lặng lẽ, bền bỉ, theo mỗi bước chân con trên hành trình của cuộc đời./.
Người viết lời bình: Nguyễn Bá Nha
——————–
