
NHA TRANG – KHÁNH HOÀ
(HỮU CHÍNH)
Nha Trang một dải lụa vàng
Xứ Trầm hương ngập muôn ngàn sắc hoa
Mùa thu dẫu chẳng kiêu sa
Không vàng lá rụng, không nhòa heo may
Xuân vừa thoáng ghé qua đây
Nắng hè rực rỡ đong đầy lối đi
Bốn mùa chẳng trọn vẹn gì
Nhưng mà đằm thắm cột nghì thế gian
Đèo ngăn chắn gió mùa lan
Ngăn dòng buốt giá dội tràn phương Nam
Nha Trang viên ngọc màu lam
Biển xanh sóng vỗ địu trầm bỏng tay
Nàng tiên kiêu hãnh đắm say
Đón bao du khách tháng ngày ngược xuôi
Non cao núi thẳm gọi mời
Hòn Mun, Hòn Đụn rạng ngời sắc xanh
Đá Bàn sóng nước trong lành
Thác Tà Gụ đổ bung mành phất phơ
Đại ngàn dệt khúc mộng mơ
Dòng sông Cái đó lững lờ uốn trôi
Thành Diên Khánh đẹp trong tôi
Oai hùng vần vũ giữa trời phong ba
Cây Dầu đôi bóng la đà
Nghìn năm đứng vững hiền hòa giữa không
Đất trời chuộng đãi ru lòng
Ban nguồn sản vật vun trồng đẹp tươi
Xoài Cam Lâm ngọt điểm mười
Cành cao trĩu quả mỉm cười ngát hương
Sầu riêng rụng rớt bên đường
Thơm lừng phố núi vấn vương dạ người
Biển cho tôm cá tận nơi
Mực tươi nức mũi gọi mời gần xa
Đậm đà bánh tráng cuốn nha
Vị quê, vị mặn, đậm đà ớt cay
Yến sào đảo đá quý thay
Ngọc ngà dâng sữa kết say đất trời
Trầm hương ngào ngạt muôn nơi
Thỏa lòng mộng ước, một đời ước ao
Tinh hoa tụ hội đỉnh cao
Nghìn năm hồn đất ngọt ngào tình quê
Hoàng hôn tím rượi bờ đê
Bóng chiều chạng vạng vỗ về bãi xa
Đêm về phố biển hoan ca
Men say quyện lẫn đậm đà tình thân
Thuyền ai cập bến tri ân
Sóng gieo khúc nhạc muôn phần thiết tha
Khách tây ngỡ cảnh quê nhà
Nơi không giông bão phong ba cuộc đời
Nắng hồng rực rỡ buông lơi
Vẫy vùng tôm cá khắp nơi rộn ràng
Lưới giăng ngập kín khoang vàng
Bao nhiêu ánh bạc rộn vang tiếng cười
Đất liền cho đến biển khơi
Đâu đâu cũng rạng nụ cười tươi xinh
Bao nhiêu tâm huyết chung tình
Dựng xây xứ sở đẹp mình đẹp ta
Rừng vàng biển bạc chan hòa
Cho cây đơm trái cho hoa kết mùa
Dẫu cho thiếu chút gió đùa
Mà sao ấm áp bốn mùa yêu thương
Mỗi chiều tản bước trên đường
Nhìn mây bay lượn vấn vương cõi lòng
Hòa chung tiếng sóng thinh không
Nghe hồn thơ gọi trĩu mông mênh chiều
Hơn ba thập kỳ bao điều
Gắn mình với biển những điều mến thương
Tin yêu vẹn cả canh trường,
Vào trong câu hát vấn vương nghĩa tình
Nha Trang vẻ đẹp lung linh
Vòng tay mở rộng đẹp xinh giữa trời
Dẫu mùa thu chẳng thấm môi
Hương xuân vương vấn trọn đời không phai
Non sông gấm vóc trải dài
Khánh Hòa lột xác tương lai rạng ngời
Khúc ca dâng tặng trọn đời
Ngàn năm vang mãi giữa trời bao la.
Nha Trang ngày: 07/09/2026

NHA TRANG – KHÁNH HOÀ – MIỀN THUỲ DƯƠNG ĐÁNG SỐNG
(Nghiên cứu phê bình: CN. Nguyễn Bá Nha)
Có những bài thơ được viết từ một khoảnh khắc rung động trước cảnh đẹp; cũng có những bài thơ được viết từ một miền đất đã trở thành một phần của đời người. Nha Trang – Khánh Hòa của Hữu Chính thuộc về trường hợp thứ hai. Bài thơ dài, nhiều hình ảnh, địa danh, sản vật và cung bậc cảm xúc – đến mức có thể vui miệng gọi là “sớ thơ”. Nhưng đằng sau cái dài ấy là một tấm lòng chân thành: tác giả yêu Nha Trang, yêu Khánh Hòa và muốn gọi tên gần như tất cả những gì mình yêu quý nơi đây.
Ngay từ những câu mở đầu, Nha Trang đã hiện ra bằng một vẻ đẹp vừa cụ thể vừa giàu chất thơ:
“Nha Trang một dải lụa vàng
Xứ Trầm hương ngập muôn ngàn sắc hoa
Mùa thu dẫu chẳng kiêu sa
Không vàng lá rụng, không nhòa heo may”
“Dải lụa vàng” là hình ảnh so sánh gợi cảm giác Nha Trang mềm mại, óng ánh trong nắng. Đáng chú ý hơn là cách tác giả nói về mùa thu. Không có cái thu quen thuộc với “vàng lá rụng”, với “heo may”, Nha Trang vẫn có một mùa thu riêng – mùa thu của miền biển, nhiều nắng, ít úa tàn và giàu sức sống.
Cái nhìn ấy tiếp tục được thể hiện qua:
“Xuân vừa thoáng ghé qua đây
Nắng hè rực rỡ đong đầy lối đi
Bốn mùa chẳng trọn vẹn gì
Nhưng mà đằm thắm cột nghì thế gian”
“Bốn mùa chẳng trọn vẹn gì” thoạt nghe như một lời trách nhẹ, nhưng lập tức được hóa giải bằng “đằm thắm”. Cái không trọn vẹn của mùa màng lại trở thành nét riêng đáng yêu của vùng đất. Tác giả không tìm một Nha Trang theo khuôn mẫu, mà yêu Nha Trang trong chính dáng vẻ riêng của nó.
Từ đó, bài thơ mở ra như một cuộc rong ruổi qua núi, đèo, biển, đảo, sông, thành cổ, rừng và thác:
“Non cao núi thẳm gọi mời
Hòn Mun, Hòn Đụn rạng ngời sắc xanh
Đá Bàn sóng nước trong lành
Thác Tà Gụ đổ bung mành phất phơ
Đại ngàn dệt khúc mộng mơ
Dòng sông Cái đó lững lờ uốn trôi”
Địa danh nối địa danh, cảnh sắc nối cảnh sắc. Nếu xét theo yêu cầu cô đọng của thơ, cách liệt kê này khiến bài thơ có phần dàn trải; nhưng ở một góc độ khác, nó lại rất tự nhiên với tâm thế của một người yêu quê hương: đã thương thì muốn kể, muốn nhắc, muốn lưu giữ từng địa danh trong ký ức. Những cái tên trên bản đồ vì thế trở thành những “điểm nhớ” của một đời người.
Thiên nhiên trong bài thơ cũng không đứng riêng mà gắn với chiều sâu lịch sử, văn hóa:
“Thành Diên Khánh đẹp trong tôi
Oai hùng vần vũ giữa trời phong ba
Cây Dầu đôi bóng la đà
Nghìn năm đứng vững hiền hòa giữa không”
“Đẹp trong tôi” cho thấy cái đẹp ở đây đã vượt khỏi sự ngắm nhìn thông thường. Đó là cái đẹp của ký ức, của sự gắn bó. “Oai hùng” đi cùng “hiền hòa” tạo nên một sắc thái hài hòa: vùng đất từng trải qua phong ba nhưng vẫn giữ được vẻ bình dị, thân thương trong tâm thức con người.
Một điểm sáng khác của tác phẩm là bức tranh sản vật quê hương:
“Xoài Cam Lâm ngọt điểm mười
Cành cao trĩu quả mỉm cười ngát hương
Sầu riêng rụng rớt bên đường
Thơm lừng phố núi vấn vương dạ người”
Xoài, sầu riêng, tôm cá, mực tươi, bánh tráng cuốn, yến sào, trầm hương… làm nên một bảng màu phong phú của đất và người Khánh Hòa. Đặc biệt, hình ảnh “cành cao trĩu quả mỉm cười” là một nét nhân hóa duyên dáng, khiến sản vật quê hương như cũng có tâm hồn. Quê hương vì thế không chỉ được nhìn bằng mắt mà còn được cảm nhận bằng vị giác, khứu giác và ký ức.
Từ đất liền đến biển khơi, từ thiên nhiên đến lao động, tất cả cùng hội tụ trong tình yêu quê xứ. Khi hoàng hôn buông xuống, Nha Trang lại chuyển sang một sắc thái khác:
“Hoàng hôn tím rượi bờ đê
Bóng chiều chạng vạng vỗ về bãi xa
Đêm về phố biển hoan ca
Men say quyện lẫn đậm đà tình thân”
“Hoàng hôn tím rượi”, “bóng chiều chạng vạng”, “phố biển hoan ca” tạo nên sự chuyển tiếp mềm mại từ cảnh vật sang đời sống. Nha Trang không chỉ đẹp trong thiên nhiên mà còn đẹp trong nhịp sống, tiếng cười, sự gặp gỡ và tình thân.
Đặc biệt, khi hình ảnh người lao động xuất hiện, tình yêu quê hương trong bài thơ có thêm chiều sâu nhân văn:
“Lưới giăng ngập kín khoang vàng
Bao nhiêu ánh bạc rộn vang tiếng cười
Đất liền cho đến biển khơi
Đâu đâu cũng rạng nụ cười tươi xinh”
“Khoang vàng”, “ánh bạc” vừa gợi thành quả của biển, vừa gợi thành quả lao động. Nhưng điều tác giả muốn giữ lại sau cùng lại là “tiếng cười”, “nụ cười”. Đó là một điểm sáng đáng trân trọng: quê hương đẹp không chỉ vì núi non, biển đảo hay sản vật, mà bởi con người được sống, lao động và hy vọng trên quê hương ấy.
Ý thơ vì vậy được nâng lên ở những câu:
“Bao nhiêu tâm huyết chung tình
Dựng xây xứ sở đẹp mình đẹp ta
Rừng vàng biển bạc chan hòa
Cho cây đơm trái cho hoa kết mùa”
“Đẹp mình đẹp ta” là cách nói mộc mạc mà gợi nhiều suy nghĩ. Quê hương phát triển thì đời sống con người được nâng lên; con người góp sức dựng xây quê hương cũng đồng thời tìm thấy giá trị của chính mình. Tình yêu cảnh sắc từ đó chuyển thành tình yêu đối với con người và trách nhiệm với nơi mình đang sống.
Đến gần cuối bài, người đọc mới có thể hiểu đầy đủ hơn vì sao tác giả viết nhiều đến vậy:
“Hơn ba thập kỳ bao điều
Gắn mình với biển những điều mến thương
Tin yêu vẹn cả canh trường,
Vào trong câu hát vấn vương nghĩa tình”
Đây chính là “chìa khóa” để đọc toàn bộ tác phẩm. Hơn ba thập kỷ không phải một chuyến đi qua. Đó là một phần đời. Khi một vùng đất đã gắn bó với con người hàng chục năm, mỗi địa danh, mùa nắng, con sóng, sản vật đều có thể trở thành ký ức. Vì vậy, độ dày của bài thơ cũng phần nào là độ dày của tình cảm.
Khép lại tác phẩm, Hữu Chính không chỉ nhìn về Nha Trang hôm nay mà còn gửi gắm niềm tin vào ngày mai:
“Nha Trang vẻ đẹp lung linh
Vòng tay mở rộng đẹp xinh giữa trời
Dẫu mùa thu chẳng thấm môi
Hương xuân vương vấn trọn đời không phai
Non sông gấm vóc trải dài
Khánh Hòa lột xác tương lai rạng ngời
Khúc ca dâng tặng trọn đời
Ngàn năm vang mãi giữa trời bao la.”
“Hương xuân vương vấn trọn đời không phai” có thể xem như lời tự tình của tác giả với miền đất đã gắn bó. Mùa có thể thay đổi, cảnh sắc có thể đổi thay, diện mạo quê hương có thể “lột xác”, nhưng tình cảm của con người với nơi mình đã sống và yêu thương vẫn có thể ở lại rất lâu. Đó cũng là nơi cảm xúc của bài thơ chuyển từ hoài niệm sang niềm tin và khát vọng.
Về nghệ thuật, Nha Trang – Khánh Hòa thiên về lối thơ trữ tình – ngợi ca, sử dụng thể lục bát và những câu biến thể khá linh hoạt. Nổi bật là hệ thống hình ảnh phong phú, đậm màu sắc địa phương; nghệ thuật liệt kê, so sánh, nhân hóa được vận dụng thường xuyên; nhiều hình ảnh đánh thức cùng lúc thị giác, thính giác, vị giác và khứu giác. Ngôn ngữ mộc mạc, trực tiếp, dễ cảm nhận, phù hợp với một bài thơ được viết trước hết từ tình yêu và ký ức.
Dĩ nhiên, chính vì Hữu Chính thương quê quá nên cái gì cũng muốn kể, khiến bài thơ có chỗ dàn trải, hình ảnh đôi khi chen nhau khá dày. Nhưng nếu chỉ dùng thước đo của sự cô đọng để nhìn nhận, ta có thể bỏ qua một điều quan trọng: đằng sau sự dài ấy là tâm thế rất thật của một người sợ mình bỏ sót một vẻ đẹp nào đó của quê hương.
Hữu Chính không chỉ viết một bài thơ về Nha Trang. Ông đang viết một lời tri ân đối với miền đất đã cho mình hơn ba mươi năm ký ức, tình yêu và những tháng ngày gắn bó. Vì thế, đọc Nha Trang – Khánh Hòa, người đọc không chỉ nhìn thấy biển xanh, núi thẳm, trầm hương, yến sào hay những vườn cây trĩu quả; mà còn nhìn thấy một con người đứng trước quê hương, say mê kể chuyện và lặng lẽ nói: tôi đã sống ở đây, đã yêu nơi này, và những gì thuộc về Nha Trang – Khánh Hòa sẽ còn ở lại trong tôi.
Đó chính là “độ dài” đẹp nhất của bài thơ – độ dài của một tình yêu quê hương đã đi qua hơn ba thập kỷ./.
(Bài: 1.626 từ)
Người viết lời bình: Bá Nha
———–
