Từ đầu sóng nối về một miền yêu thương

Từ đầu sóng nối về một miền yêu thương
Ảnh minh họa: AI

SONG TỬ TÂY – CẦU NỐI  YÊU THƯƠNG

                                                                        Thơ: Phạm Quang Tuấn

Cầu nối truyền hình Song Tử Tây
Quần đảo Trường Sa vui đêm ngày
Thành phố hòa cùng dân bám biển
Tiền tiêu Tổ Quốc tay bắt tay.                 

Biển đảo biên cương vùng Tổ Quốc
Bảo vệ quê hương gác đêm ngày
Vững chắc niềm tin nâng cao súng
Hạnh phúc mạng về thỏa chí trai.                 

Từng đoàn ngư dân đi ra biển
Yên lòng đánh cá tiếng dân chài
Trời yên, biển lặng mà bám biển
Thuyền, ghe đày cá vui đêm ngày.                 

Trường Sa, Sông Tử Tây thân yêu
Quốc gia thế mạnh biển thật nhiều
Từ lòng đáy biển nhiều của quý
Làm giàu Tổ Quốc chốt tiền tiêu.      

Bảo vệ chủ quyền quê hương ta
Kính cẩn nghiêng mình thả vòng hoa
Tưởng nhớ anh lính người chiến sĩ
Hy sinh giữ đảo giữa biển xa.      

Lung linh Đảo Ngọc giữa đêm sương
Các anh nằm dưới lòng đại dương
Thả hồn mà nghe lời biển hát
Mẹ hiền Tổ Quốc khúc yêu thương.               

Biếu tặng nhau bánh lá bàng vuông
Vài nhành san hô cọng thẳng suông
Cùng quà lưu niệm giọt nước biển
Trường Sa biển đảo bao vấn vương.            

Ở đây thành phố luôn hướng về
Nhịp cầu kết nối trọn lời thề
Đầu sóng ngọn gió tình thân thiện
Biên cương hải đảo đậm tình ghê.

         TỪ ĐẦU SÓNG NỐI VỀ MỘT MIỀN YÊU THƯƠNG

(Lời bình tác phẩm thơ “Song Tử Tây – Cầu nối yêu thương” của Phạm Quang Tuấn)


Lời bình: Bá Nha

Có những vùng đất dù cách xa đất liền bởi trùng khơi, nhưng trong tâm thức mỗi người lại luôn hiện hữu như một phần máu thịt. Trường Sa là một miền như thế. Ở đó có những người lính ngày đêm canh giữ đảo, có những người dân bám biển mưu sinh, có những chuyến tàu vượt sóng và cũng có những tình cảm từ đất liền vượt qua khoảng cách địa lý để tìm đến nơi đầu sóng. Tác phẩm “Song Tử Tây – Cầu nối yêu thương”, nhà thơ Phạm Quang Tuấn đã chọn hình ảnh “cầu nối” để diễn tả mạch tình cảm đặc biệt ấy – một cây cầu không hiện hữu bằng bê tông, sắt thép mà được kết nên từ tình yêu, niềm tin và sự gắn bó giữa đảo xa với đất liền.

Một không gian vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa mà tác giả đã mô tả từ những câu thơ đầu:
“Cầu nối truyền hình Song Tử Tây
Quần đảo Trường Sa vui đêm ngày
Thành phố hòa cùng dân bám biển
Tiền tiêu Tổ Quốc tay bắt tay.”

“Cầu nối truyền hình” ở đây không chỉ là một phương tiện kết nối thông tin. Qua cảm nhận của nhà thơ, nó trở thành nhịp cầu tình cảm, giúp đất liền và đảo xa được nhìn thấy nhau, nghe thấy nhau và gần nhau hơn. Một bên là thành phố, một bên là những con người đang ngày đêm bám biển, giữ đảo; giữa hai không gian ấy là sự gặp gỡ của những tấm lòng. Cách sử dụng những từ ngữ “hòa cùng”, “tay bắt tay” khiến khoảng cách biển khơi dường như được thu ngắn lại. Cái hay của đoạn thơ nằm ở chỗ tác giả không miêu tả biển đảo bằng những hình ảnh quá xa lạ mà đưa nó trở về với cảm giác thân thuộc của tình người.

Trong mạch thơ ấy, người lính Trường Sa hiện lên với tư thế của những con người đang thực hiện nhiệm vụ giữa một không gian đặc biệt:
“Bảo vệ quê hương gác đêm ngày
Vững chắc niềm tin nâng cao súng…”

Nhịp thơ ngắn, dứt khoát, những động từ “bảo vệ”, “gác”, “nâng” tạo nên sắc thái mạnh mẽ. Nhưng phía sau tư thế người lính là một đời sống rất con người. Họ không chỉ đứng gác giữa biển trời mà còn mang trong mình niềm tin, khát vọng và tình yêu đối với quê hương. Bởi vậy, hình tượng người lính trong bài thơ không được xây dựng theo vẻ đẹp xa cách, lý tưởng hóa, mà gần gũi trong chính những sinh hoạt và cảm xúc đời thường.

Nếu người lính là điểm tựa nơi đảo xa thì ngư dân chính là những con người nối dài sự sống trên biển.
“Từng đoàn ngư dân đi ra biển
Yên lòng đánh cá tiếng dân chai
Trời yên, biển lặng mà bám biển
Thuyền, ghe đầy cá vui đêm ngày.”

Từ không khí trang nghiêm của nhiệm vụ canh giữ… đến nhịp sống lao động bình dị. “Tiếng dân chài”, “thuyền, ghe đầy cá” là những chi tiết mang đậm hơi thở đời sống.

Biển không chỉ là không gian địa lý mà còn là không gian sinh kế, nơi người dân gửi gắm bao nhọc nhằn và hy vọng. Hình ảnh người lính và ngư dân vì thế có sự song hành tự nhiên: một bên giữ bình yên, một bên lao động, cùng góp phần làm nên sức sống của biển đảo.

Đáng chú ý, trong bài thơ còn có một lớp văn hóa dân gian mộc mạc mà duyên dáng. Đó là “bánh lá bàng vuông”, “vài nhành san hô”, “giọt nước biển” và những món quà lưu niệm. Những vật phẩm nhỏ bé ấy bỗng trở thành những “kỷ vật” của tình người. Bánh lá bàng vuông không chỉ gợi một nét riêng của đời sống Trường Sa mà còn mang theo câu chuyện về sự sẻ chia giữa những con người nơi đảo xa. Cái quý giá của món quà không nằm ở giá trị vật chất mà ở tình cảm gửi gắm phía sau.

Trong dòng cảm xúc ấy, bài thơ có những câu lắng xuống khi tác giả hướng về những người đã nằm lại giữa biển khơi:
“Kính cẩn nghiêng mình thả vòng hoa
Tưởng nhớ anh lính người chiến sĩ
Hy sinh giữ đảo giữa biển xa.”

Và rồi:
“Các anh nằm dưới lòng đại dương
Thả hồn mà nghe lời biển hát
Mẹ hiền Tổ Quốc khúc yêu thương.”

Đây là một trong những đoạn thơ giàu cảm xúc nhất. Hình ảnh “lòng đại dương” mở ra chiều sâu của sự mất mát; còn “lời biển hát”, “Mẹ hiền Tổ Quốc” lại đưa nỗi đau về với sự dịu dàng, thiêng liêng. Biển trong thơ Phạm Quang Tuấn vì thế không chỉ có sóng gió mà còn có ký ức, có sự hy sinh và có những lời ru tưởng như vọng mãi từ quê hương.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ lục bát biến thể xen với những câu có nhịp gần gũi, ngôn ngữ giản dị, giàu tính khẩu ngữ. Vần điệu chưa phải lúc nào cũng thật chặt, một số câu còn mang dấu ấn của lời nói trực tiếp, nhưng chính sự mộc mạc ấy lại tạo nên chất riêng cho tác phẩm. Nhà thơ không cầu kỳ trong việc tạo hình ảnh mà thiên về ghi nhận cảm xúc, kể những điều mình thấy, mình nghĩ và mình rung động trước biển đảo quê hương.

Điều đáng quý nhất là bài thơ đã tạo được một trường liên tưởng rộng: từ cây cầu truyền hình đến những con tàu ra khơi; từ người lính đứng gác đến ngư dân bám biển; từ món quà nhỏ nơi đảo xa đến những người đã hóa thân vào biển cả. Tất cả cùng gặp nhau ở một điểm: tình yêu quê hương được biểu hiện bằng những điều cụ thể, gần gũi và đời thường.

Khép lại bài thơ là hình ảnh:
“Ở đây thành phố luôn hướng về
Nhịp cầu kết nối trọn lời thề
Đầu sóng ngọn gió tình thân thiện”
Biên cương hải đảo đậm tình ghê.”

“Nhịp cầu kết nối” vì thế không chỉ là hình ảnh mở đầu mà còn trở thành dư âm của toàn bài. Đó là nhịp cầu giữa đất liền và đảo xa, giữa người lính và nhân dân, giữa hiện tại với những người đã hy sinh, giữa biển cả với đất mẹ. Qua những câu thơ chân thành, Phạm Quang Tuấn đã gửi đến người đọc một thông điệp giản dị mà giàu ý nghĩa: nơi nào có tình yêu thương, nơi đó khoảng cách sẽ được nối gần; nơi nào có sự sẻ chia, nơi đó biển xa cũng trở nên gần gũi.

Và có lẽ, điều còn đọng lại sau những câu thơ về Song Tử Tây không chỉ là hình ảnh một hòn đảo giữa trùng khơi, mà là cảm giác về một miền quê hương luôn được nâng niu trong trái tim con người – một miền yêu thương được nối từ đất liền ra tận đầu song./.

BÁ NHA

 

error: Content is protected !!