DI SẢN TRUYỀN THỐNG CỐ ĐÔ
Thơ: Mỹ Vị
Tự hào Di Sản Cố Đô
Mộc châu Triều Nguyễn cơ đồ Huế ơi!
Cung Đình nhã nhạc tuyệt vời
Chầu Văn Ca Huế rạng ngời Sông Hương
Điệu hò mái đẩy mười phương
Du khách đến Huế vấn vương bao tình
Văn hóa ẩm thực, tâm linh
Ngọ Môn Đại Nội Huế mình nên thơ
Ai về xứ Huế mộng mơ
Thuyền rồng mãi đợi bên bờ Hương Giang
Tiếng chuông Thiên Mụ ngân vang.
Tràng Tiền áo tím cô nàng về đâu
Làng nghề truyền thống đã lâu
Bài Chòi Trung Bộ hò câu đáp lời
Dân gian Lễ hội vui chơi
Bản sắc Dân tộc Huế ơi sáng ngời !
Mừng vui câu lạc bộ chúng tôi
Thơ Ca Di Sản tuyệt vời đẹp sao
Di tích lịch sử tự hào
Cố Đô hùng vĩ ghi vào sử danh.
NƠI HỒN CỐ ĐÔ NGÂN VỌNG
Lời bình: Bá Nha
Huế đi vào tâm thức người Việt không chỉ bằng những công trình cổ kính, dòng sông thơ mộng hay vẻ trầm mặc của vùng đất từng là kinh đô, mà còn bằng kho tàng di sản văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Với “Di sản truyền thống Cố đô”, nhà thơ Mỹ Vị chọn thơ để bày tỏ niềm tự hào về quê hương, đồng thời giới thiệu những nét đẹp văn hóa tiêu biểu của xứ Huế. Bài thơ như một cuộc dạo bước qua nhiều lớp không gian văn hóa, nơi mỗi địa danh, làn điệu dân gian đều gợi lên một phần hồn cốt Cố đô.
Cảm xúc đã được tác giả đặt trong sắc thái tự hào. Qua hai câu thơ mở đầu của tác phẩm:
“Tự hào Di Sản Cố Đô
Mộc châu Triều Nguyễn cơ đồ Huế ơi!”
Lời thơ trực tiếp, thể hiện tình cảm của người con đối với quê hương. Từ “tự hào” trở thành điểm xuất phát cho toàn bộ mạch thơ. Nếu tác phẩm “Nhớ quê” của nhà thơ Mỹ Vị là tiếng lòng người xa xứ hướng về nơi chôn nhau cắt rốn, thì ở tác phẩm “Di sản truyền thống Cố đô”, tình yêu quê hương được mở rộng thành ý thức trân trọng những giá trị lịch sử, văn hóa quê nhà.
Tác giả tiếp tục đưa người đọc đi qua những thanh âm đặc trưng của Huế:
“Cung Đình nhã nhạc tuyệt vời
Chầu Văn Ca Huế rạng ngời Sông Hương
Điệu hò mái đẩy mười phương
Du khách đến Huế vấn vương bao tình”
Điểm đáng chú ý về nghệ thuật là cách tác giả liên tục xâu chuỗi hình ảnh, địa danh và loại hình văn hóa. Nhã nhạc cung đình, chầu văn, ca Huế, hò mái đẩy… hiện lên như những thanh âm nối tiếp, tạo nên một “bản hòa âm” về di sản. Tác giả không đi sâu mô tả từng loại hình mà chủ yếu gợi tên, khơi ký ức và đánh thức niềm tự hào. Cách biểu đạt này tạo cảm giác như một dòng chảy liên tục của ký ức Huế.
Không gian văn hóa ấy tiếp tục được mở rộng:
“Văn hóa ẩm thực, tâm linh
Ngọ Môn Đại Nội Huế mình nên thơ
Ai về xứ Huế mộng mơ
Thuyền rồng mãi đợi bên bờ Hương Giang”
Từ nghệ thuật biểu diễn đến ẩm thực, tâm linh; từ di tích kiến trúc đến cảnh quan sông nước, tác giả cho thấy một Huế đa tầng, nơi di sản không chỉ nằm trong công trình cổ mà còn hiện diện trong đời sống tinh thần cộng đồng. Ngọ Môn, Đại Nội, Hương Giang, thuyền rồng… tạo nên một bức tranh vừa lịch sử vừa thi vị.
Nếu Đại Nội và Ngọ Môn gợi dấu ấn một thời vàng son của Cố đô, thì tiếng chuông Thiên Mụ lại đưa cảm xúc về một chiều sâu khác:
“Tiếng chuông Thiên Mụ ngân vang.
Tràng Tiền áo tím cô nàng về đâu”
Một âm thanh và một sắc màu đủ làm nên một Huế rất riêng. Tiếng chuông Thiên Mụ gợi sự tĩnh tại, sâu lắng; “áo tím” gợi nét duyên dáng của người con gái Huế. Cách đặt hai hình ảnh cạnh nhau tạo sự chuyển đổi từ không gian tâm linh sang đời thường, từ tiếng chuông chùa đến bóng dáng con người. Di sản vì thế không phải thứ xa xôi nằm trong quá khứ, mà vẫn sống trong cảnh vật và con người hôm nay.
Bài thơ còn dành sự quan tâm đến những giá trị văn hóa cộng đồng:
“Làng nghề truyền thống đã lâu
Bài Chòi Trung Bộ hò câu đáp lời
Dân gian Lễ hội vui chơi
Bản sắc Dân tộc Huế ơi sáng ngời!”
Tính văn hóa dân gian được thể hiện rõ. Làng nghề, bài chòi, lễ hội là những giá trị được cộng đồng gìn giữ và trao truyền. Đó không chỉ là hoạt động phục vụ đời sống mà còn là nơi lưu giữ ký ức, tập quán, nghệ thuật và sự gắn kết cộng đồng. Đưa những yếu tố ấy vào thơ, tác giả Mỹ Vị đã giúp bức tranh di sản không chỉ có cung đình, thành quách mà còn có đời sống dân gian – phần nền tảng làm nên sức sống văn hóa.
Một nét đáng quý khác là tình cảm của tác giả đối với hoạt động gìn giữ và lan tỏa di sản:
“Mừng vui câu lạc bộ chúng tôi
Thơ Ca Di Sản tuyệt vời đẹp sao”
Hai câu thơ đưa “di sản” từ không gian lịch sử trở về đời sống hiện tại. Những câu lạc bộ thơ ca, những người yêu văn hóa góp phần kết nối quá khứ với hiện tại. Khi con người còn yêu, còn nhớ và sáng tác về di sản, di sản vẫn tiếp tục sống trong đời sống tinh thần cộng đồng.
Về phương diện nghệ thuật, “Di sản truyền thống Cố đô” sử dụng thể thơ lục bát với nhịp điệu quen thuộc, ngôn ngữ giản dị, giàu tính gọi mời. Tác giả thiên về lối thơ liệt kê, xâu chuỗi hình ảnh, địa danh và các giá trị văn hóa. Đây là lựa chọn phù hợp với ý tưởng giới thiệu một bức tranh tổng thể về Huế.
Những câu thơ không đặt nặng sự cầu kỳ mà chú trọng khả năng gợi nhớ, gợi liên tưởng. Bởi vậy, bài thơ có dáng dấp của một lời mời: hãy đến với Huế, lắng nghe những thanh âm, ngắm nhìn những di sản và cảm nhận chiều sâu văn hóa của vùng đất này.
Ẩn sau niềm tự hào về di sản còn là một thông điệp nhân sinh nhẹ nhàng. Một vùng đất chỉ thực sự có sức sống khi con người biết trân trọng những gì cha ông để lại và có ý thức gìn giữ, trao truyền cho thế hệ sau. Di sản vì thế không chỉ thuộc về quá khứ mà còn là trách nhiệm của hiện tại và món quà dành cho tương lai.
Khép lại bài thơ là hai câu:
“Di tích lịch sử tự hào
Cố Đô hùng vĩ ghi vào sử danh.”
Lời thơ mang sắc thái khẳng định, như một điểm nhấn cho toàn bộ cảm xúc. Với Mỹ Vị, viết về Huế cũng là một cách trở về với cội nguồn văn hóa của chính mình. Bài thơ không hướng đến những tìm tòi phức tạp về ngôn ngữ hay hình thức, nhưng có ưu điểm ở sự chân thành, tình yêu quê hương được bộc lộ trực tiếp và ý thức nâng niu những giá trị văn hóa truyền thống.
“Di sản truyền thống Cố đô” vì thế có thể được đọc như một khúc hát tự hào của người con xứ Huế. Qua những địa danh, làn điệu, lễ hội, làng nghề và ký ức văn hóa, Mỹ Vị đã phác nên một Huế vừa cổ kính vừa gần gũi, vừa mang dấu ấn lịch sử vừa sống động trong đời sống hôm nay. Phía sau những câu thơ giản dị ấy là một tình yêu quê hương chân thành – tình yêu muốn gọi tên những vẻ đẹp của Huế để cùng mọi người nhớ, yêu và trân trọng hơn một vùng đất giàu di sản của dân tộc./.
Bá Nha
