
XUÂN ĐẤT BẮC
Thơ: Phạm Quang Tuấn
Quanh năm nắng ấm hồng da thịt
Tết về trời lành lạnh se se
Hoa đào nở “Ba mươi sáu phố”
Hà Nội xuân về cảnh đẹp ghê!
Hoàng Kiếm lung linh cầu Thê Húc
Trầm hương khói quyện đền NgọcSơn
Hoa Lư thắm đậm dòng lịch sử
Lưu dấu hùng anh cố đô xưa.
Ninh Bình xinh đẹp bởi Tràng An
Lũ lượt người xem khách tham quan
Đền Đô, Kiếp Bạc hồn dân tộc
Con Lạc cháu Rồng thật vinh quang!
Lên chùa Yên Tử vọng tiếng chuông
Đầu xuân khấn nguyện vượt vô thường
Hoa ban trắng xoá vùng Tây Bắc
Mến đạo yêu đời xóa đau thương.
Biển đẹp quê hương vịnh Hạ Long
Nhấp nhô sóng biếc nắng sắc hồng
Tự hào thay kỳ quan thế giới
Đất Bắc xuân về đẹp mênh mông.
Mờ mờ ảo ảo khói Sa Pa
Chợ Phiên lũ lượt người đi qua
Rẻo cao xuân đến vui ẩm thực
Đón cặp tình nhân Xuân mặn mà ./.

Lời bình: BÁ NHA
ĐI QUA MỘT MIỀN XUÂN ĐẤT BẮC
(Lời bình tác phẩm “Xuân đất Bắc” – thơ của Phạm Quang Tuấn)
Có những mùa xuân chỉ cần một nhành đào trước ngõ, một chút se lạnh trong gió hay tiếng chuông chùa ngân xa cũng đủ đánh thức cả một miền ký ức. Nhưng với nhà thơ Phạm Quang Tuấn, mùa xuân không đứng yên ở một góc phố. Nó lên đường. Từ Hà Nội, qua Ninh Bình, đến Yên Tử, Tây Bắc, Hạ Long rồi Sa Pa…, mùa xuân hiện ra trong một hành trình rộng dài, nơi cảnh sắc thiên nhiên gặp gỡ lịch sử, văn hóa và đời sống con người. Vì thế, đọc “Xuân đất Bắc”, ta không chỉ nhìn thấy một miền Bắc vào xuân mà còn cảm nhận được tình yêu của tác giả đối với một vùng đất giàu trầm tích văn hóa dân tộc.
Cái lạnh rất riêng của mùa xuân miền Bắc đã được gọi tên bằng một cảm giác giản dị ngay từ những câu thơ đầu: “Tết về trời lành lạnh se se”. Không phải cái rét buốt của mùa đông, cũng chưa phải hơi ấm rực rỡ của ngày hè, “se se” chính là tín hiệu thân thuộc báo rằng Tết đã về. Sau “quanh năm nắng ấm hồng da thịt”, sự chuyển mùa càng trở nên rõ nét. Chỉ một chút lành lạnh thôi cũng đủ làm không gian đổi khác, lòng người đổi khác.
Trong cái nền thời tiết ấy, Hà Nội xuất hiện bằng biểu tượng quen thuộc: hoa đào. Câu thơ “Hoa đào nở ‘Ba mươi sáu phố’” gợi một Hà Nội cổ kính mà rộn ràng. Hoa không chỉ nở trên cành mà như lan vào phố phường, vào không khí Tết, vào ký ức bao thế hệ. Từ đó, tác giả đưa người đọc đến Hoàn Kiếm, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn – những địa danh đã trở thành một phần diện mạo văn hóa Thăng Long. “Hoàng Kiếm lung linh cầu Thê Húc / Trầm hương khói quyện đền Ngọc Sơn” là những câu thơ giàu tính tạo hình. Một bên là ánh sáng, một bên là khói hương; một bên náo nức cảnh xuân, một bên trầm mặc không gian tâm linh. Hai sắc thái ấy làm nên vẻ đẹp Hà Nội: thanh lịch mà linh thiêng, hiện đại mà vẫn neo sâu trong truyền thống.
Từ Hà Nội, bước chân mùa xuân tiếp tục tìm về Ninh Bình:
“Hoa Lư thắm đậm dòng lịch sử
Lưu dấu hùng anh cố đô xưa”
Nếu Hà Nội mang vẻ đẹp của một đô thị văn hiến thì Hoa Lư đưa người đọc trở về chiều sâu dựng nước và giữ nước. Chỉ hai chữ “Cố đô” cũng đủ mở ra một không gian, thời gian của dòng chảy lịch sử. Mùa xuân vì thế không chỉ là mùa của hoa lá mà còn là mùa để con người nhớ về nguồn cội.
Tràng An hiện lên với vẻ đẹp thu hút du khách:
“Ninh Bình xinh đẹp bởi Tràng An
Lũ lượt người xem khách tham quan”
Sau cảnh sắc là con người; sau di sản là nhịp sống hôm nay. Những địa danh Đền Đô, Kiếp Bạc lại nối mạch thơ sang chiều sâu tâm linh và ký ức dân tộc. “Con Lạc cháu Rồng thật vinh quang!” trực tiếp bộc lộ niềm tự hào về nguồn gốc. Cách diễn đạt mộc mạc nhưng phù hợp với cảm xúc chân thành của tác giả.
Nếu có một điểm làm nên sắc thái văn hóa rõ nét cho “Xuân đất Bắc”, đó chính là những không gian tín ngưỡng. Lên Yên Tử, nghe “vọng tiếng chuông”, con người như bước ra khỏi náo nhiệt đời thường để hướng về sự tĩnh tại: “Đầu xuân khấn nguyện vượt vô thường”. Đằng sau lời khấn là mong ước bình an, là nhu cầu tìm một chỗ dựa tinh thần – nét đẹp tín ngưỡng đã ăn sâu vào đời sống người Việt. Mỗi độ xuân về, con người tìm đến chùa chiền không chỉ để cầu may mà còn gửi gắm những ước vọng tốt lành cho năm mới.
Từ Yên Tử, bài thơ mở rộng lên Tây Bắc với “hoa ban trắng xoá”. Màu trắng của hoa ban đem đến một sắc xuân khác – không phải sắc đào đỏ thắm của đồng bằng mà là vẻ tinh khôi của núi rừng. “Mến đạo yêu đời xóa đau thương” cho thấy mùa xuân trong cảm nhận của tác giả còn mang ý nghĩa tinh thần. Xuân không chỉ làm đẹp đất trời mà còn gieo vào lòng người niềm tin, tình yêu cuộc sống và khát vọng vượt qua nhọc nhằn.
Rồi từ núi rừng, hành trình lại xuôi về biển. Hạ Long xuất hiện với “sóng biếc”, “nắng sắc hồng”, với dáng hình nhấp nhô của những đảo đá. Hình ảnh quen thuộc nhưng tạo được gam màu tươi sáng cho đoạn thơ. Đặc biệt, câu “Tự hào thay kỳ quan thế giới” không chỉ là lời ngợi ca cảnh đẹp mà còn là tiếng lòng của người đứng trước vẻ đẹp quê hương và nhận ra giá trị đất nước mình. Tình yêu thiên nhiên vì thế hòa vào niềm tự hào dân tộc.
Đến Sa Pa, không khí bài thơ lại chuyển sang một sắc thái khác:
“Mờ mờ ảo ảo khói Sa Pa
Chợ Phiên lũ lượt người đi qua”
Nếu Hạ Long khoáng đạt, rực rỡ thì Sa Pa bảng lảng, mơ hồ. Hình ảnh chợ phiên đưa bài thơ từ cảnh quan sang đời sống văn hóa. Đó không chỉ là nơi mua bán mà còn là không gian gặp gỡ, trao đổi, thưởng thức ẩm thực và tìm niềm vui trong những ngày đầu năm.
Đến đây, mùa xuân không còn là một khái niệm trừu tượng. Xuân có hương trầm, tiếng chuông, hoa đào, hoa ban, khói núi, sóng biển, dòng người du xuân và cả những đôi lứa tìm đến vùng cao. Câu kết “Đón cặp tình nhân Xuân mặn mà” khép lại hành trình bằng một nét chấm phá rất đời. Sau lịch sử, di sản và những địa danh nổi tiếng vẫn là con người với những rung động bình dị. Chính tình yêu khiến mùa xuân trở nên gần gũi hơn với đời sống.
Về nghệ thuật, “Xuân đất Bắc” được xây dựng chủ yếu bằng thể thơ lục bát biến thể, kết hợp với hệ thống hình ảnh và địa danh dày đặc. Nhà thơ Phạm Quang Tuấn không chọn một điểm nhìn duy nhất mà liên tục dịch chuyển không gian, giống như một cuộc du xuân bằng thơ. Cách liệt kê địa danh đôi lúc tạo cảm giác như một hành trình điểm qua thắng cảnh, nhưng đồng thời mở rộng không gian tác phẩm, cho thấy vốn hiểu biết và tình cảm của người viết đối với đất Bắc.
Điều đáng quý hơn cả nằm ở tấm lòng. Nhà thơ Phạm Quang Tuấn nhìn mùa xuân bằng con mắt của một người yêu cảnh sắc, trân trọng lịch sử, hướng về tâm linh và tự hào về quê hương đất nước. Cái đẹp trong bài thơ không chỉ nằm ở hoa đào, hoa ban hay Hạ Long, mà còn nằm trong cách con người tìm về cội nguồn, cầu mong bình an, thưởng ngoạn cảnh đẹp và trao gửi tình yêu.
Trong suốt hành trình dài để nung nấu niềm đam mê văn chương và tình yêu quê hương đất nước Việt Nam tươi đẹp, hùng vĩ, trù phú… thi sĩ Phạm Quang Tuấn đã trải nghiệm, du ngoạn không mỏi. Thi sĩ đã đi và viết bằng các giác quan và một trái tim rung động.
“Xuân đất Bắc” giống như một tấm bản đồ được vẽ bằng cảm xúc. Trên đó, mỗi địa danh là một dấu son, mỗi cảnh sắc là một gam màu; tiếng chuông, làn khói, cánh hoa và bước chân du khách cùng góp vào bức tranh mùa xuân. Đọc bài thơ, ta có cảm giác đang cùng tác giả đi qua nhiều miền đất, để rồi nhận ra một điều giản dị: mùa u8xuân đẹp không chỉ bởi đất trời thay áo mới, mà còn bởi trong mùa xuân ấy, con người biết nhớ về cội nguồn, biết yêu quê hương và trao cho nhau những ước vọng tốt lành./.
BÁ NHA
