
KHÓI CAY CHIỀU QUÊ
Thơ: LƯ VĂN KHOA
(Bút danh: Anh Khoa, ở Cần Thơ)
Mùa nước nổi trắng đồng xa,
Cá linh theo nước trôi qua cuối dòng.
Điên điển nở phía ven sông,
Vàng như nỗi nhớ chờ mong một người.
Chiều buông tím cả chân trời,
Khói bếp mẹ quyện với lời gió đưa.
Nồi cá linh thuở ngày xưa,
Mẹ kho cay ớt, sớm trưa đợi chờ.
Bên sông nước chảy lững lờ,
Mẹ ngồi nhặt cá, tóc tơ bạc dần.
Ngoài kia nước ngập trắng đồng,
Trong nhà hơi ấm mặn nồng tình quê.
Ngày xưa tôi bé chân quê,
Theo mẹ xuống bến, theo cha ra đồng.
Bắt con cá nhỏ giữa dòng,
Mang về mẹ nấu, chiều trong khói vàng.
Tháng năm như nước qua ngang,
Tôi đi biền biệt, mẹ càng xa xăm.
Quê nhà vẫn đó ngần năm,
Điên điển vẫn nở âm thầm bên sông.
Một chiều trở lại quê mong,
Con đò năm cũ còn không bến chờ?
Tìm đâu dáng mẹ ngày xưa,
Tìm đâu bếp lửa sớm trưa gọi mình?
Cá linh vẫn ánh lung linh,
Mà người năm cũ bóng hình còn đâu.
Điên điển vàng đến nao lòng,
Chợt nghe khói bếp gọi dòng nhớ thương.
Nước về trắng cả quê hương,
Phù sa ôm lấy những đường thời gian.
Tôi ngồi bên bếp chiều tan,
Nghe trong khói mỏng tiếng đàn… mẹ ru.
Mùa sau nước lại về ư,
Xin cho tôi được trở về bên sông.
Một nồi cá nhỏ thơm nồng,
Một chùm điên điển, một vòng tay xưa.
Dẫu đời qua mấy nắng mưa,
Quê nghèo vẫn giữ người chưa thể quên.
Mùa nước nổi lại lênh đênh,
Mà thương khói bếp mẹ hiền… suốt thôi.

Lời bình: BÁ NHA
KHI KHÓI BẾP GỌI MỘT MIỀN THƯƠNG NHỚ
(Lời bình tác phẩm thơ “Khói cay chiều quê” thơ Lư Văn Khoa)
Có những miền quê chỉ cần một làn khói mỏng bay lên trong buổi chiều cũng đủ đánh thức cả một vùng ký ức. Có khi chẳng phải khói bếp, mà là khói của thời gian; chẳng phải mùi cay của ớt, mà là vị cay nơi khóe mắt khi con người chợt nhận ra những gì thân thuộc nhất đã lặng lẽ đi xa. Với Khói cay chiều quê, nhà thơ Lư Văn Khoa không tìm đến những hình ảnh lớn lao. Anh trở về với mùa nước nổi, cá linh, bông điên điển, bến sông, nồi cá mẹ kho và một mái nhà quê. Từ những điều bình dị ấy, bài thơ mở ra một khoảng trời thương nhớ: nỗi nhớ quê hòa vào nỗi nhớ mẹ, rồi lắng lại trong một tiếng ru chìm sâu dưới lớp phù sa năm tháng.
Ngay từ những câu thơ đầu, không gian miền Tây Nam Bộ hiện ra vừa mộc mạc vừa có sức gợi: “Mùa nước nổi trắng đồng xa”, “Cá linh theo nước trôi qua cuối dòng”. Chỉ vài nét chấm phá, tác giả đã đưa người đọc vào mùa của quê hương anh. Nước nổi không chỉ là hiện tượng thiên nhiên; trong ký ức người miền sông nước, đó còn là mùa cá, mùa bông điên điển, mùa của những bữa cơm gia đình và những ngày gắn bó với ruộng đồng. Bởi vậy, khi “Điên điển nở phía ven sông”, sắc vàng ấy lập tức nối với một sắc thái khác của tâm hồn: “Vàng như nỗi nhớ chờ mong một người”. Cách ví von không cầu kỳ nhưng có duyên. Màu vàng của hoa đã hóa thành màu của ký ức, chờ mong và một nỗi nhớ không dễ gọi thành tên.
Thơ Lư Văn Khoa có một ưu thế đáng quý: anh không cố làm cho cái quê trở nên “thơ” bằng những mỹ từ bóng bẩy. Cái đẹp nằm sẵn trong đời sống, trong “khói bếp mẹ”, “nồi cá linh”, “bên sông nước chảy lững lờ”, trong dáng mẹ “nhặt cá, tóc tơ bạc dần”. Chính sự tiết chế ấy khiến cảm xúc có chỗ để thấm. Người đọc tự bước vào ký ức bằng những hình ảnh rất đỗi quen thuộc.
Đặc biệt, hình tượng người mẹ được đặt giữa trung tâm miền ký ức. Mẹ không xuất hiện bằng một chân dung được tô đậm, mà hiện lên qua những công việc nhỏ bé: kho cá, nhặt cá, chờ con, nhóm bếp. “Mẹ ngồi nhặt cá, tóc tơ bạc dần” có thể xem là một trong những câu thơ neo cảm xúc của toàn bài. Thời gian không được nói bằng năm tháng, mà được đo bằng màu tóc mẹ. Chỉ một động tác nhặt cá bên dòng sông, một mái tóc dần bạc, vậy mà phía sau đó là biết bao mùa nước nổi đã đi qua đời người.
Bởi thế, “nồi cá linh thuở ngày xưa” không còn đơn thuần là một món ăn dân dã. Nó là một phần ký ức gia đình. Vị “cay ớt” của nồi cá kho vừa là vị quê, vừa thấp thoáng cái cay của cuộc đời. Cái cay ấy ban đầu nằm trong món ăn, rồi chuyển vào ký ức, để đến cuối bài, người đọc nhận ra một thứ “khói cay” khác: cái cay nơi lòng người khi trở về quê cũ mà người xưa không còn nữa.
Mạch thơ từ hiện tại trở về quá khứ rồi lại từ quá khứ trở về hiện tại được triển khai tự nhiên. “Ngày xưa tôi bé chân quê / Theo mẹ xuống bến, theo cha ra đồng” mở ra một tuổi thơ không son phấn. Đứa trẻ ấy theo mẹ, theo cha, bắt “con cá nhỏ giữa dòng”, rồi mang về để mẹ nấu. Những việc tưởng nhỏ nhoi ấy, khi còn bé, có thể chẳng được nhìn nhận như một báu vật. Chỉ đến lúc “Tháng năm như nước qua ngang”, người con đi xa, mẹ càng xa xăm, ký ức mới bất chợt trở thành điều không thể mua lại.
“Tháng năm như nước qua ngang” là một liên tưởng đẹp bởi nó bắt đúng nhịp sống miền sông nước. Nước cứ chảy, mùa cứ trôi, phù sa vẫn bồi đắp đôi bờ, nhưng đời người không thể quay lại bến cũ. Quê nhà “vẫn đó”, điên điển “vẫn nở”, cá linh “vẫn ánh lung linh”, chỉ có “người năm cũ” đã khuất khỏi tầm mắt. Sự đối lập giữa cái còn và cái mất làm nỗi buồn sâu hơn mà không cần lên giọng bi lụy.
Đến đoạn trở về, câu hỏi “Một chiều trở lại quê mong, / Con đò năm cũ còn không bến chờ?” nghe như một lời tự hỏi, nhưng thực ra là câu hỏi dành cho chính thời gian. Bến có thể còn, con đò có thể còn, dòng sông vẫn chảy, hoa điên điển vẫn vàng bên mép nước; chỉ có người từng đứng ở bến ấy đợi mình thì không còn nữa. Những câu “Tìm đâu dáng mẹ ngày xưa, / Tìm đâu bếp lửa sớm trưa gọi mình?” vì thế không chỉ là tìm một người mẹ. Đó còn là hành trình con người đi tìm lại chính mình trong miền tuổi thơ đã mất.
Ở phương diện văn hóa, Khói cay chiều quê mang trong nó một lát cắt đẹp của đời sống Nam Bộ. Mùa nước nổi, cá linh, bông điên điển, bến sông, ruộng đồng, nồi cá kho… đều là những hình ảnh riêng của vùng sông nước Cửu Long. Nhưng tác giả không biến chúng thành những “đặc sản” để phô diễn màu sắc địa phương. Chúng được đặt vào đời sống gia đình, trở thành ký hiệu của tình quê, tình mẹ và nếp sống cộng đồng. Bởi vậy, cái riêng của miền Tây có thể chạm tới cái chung của nhiều người Việt: đi xa rồi mới thấm hết giá trị của nơi mình đã lớn lên.
Khép lại bài thơ, “Tôi ngồi bên bếp chiều tan” là một tư thế đẹp. Con người ngồi lại bên bếp, giữa buổi chiều đang tan vào bóng tối, nghe “trong khói mỏng tiếng đàn… mẹ ru”. Tiếng ru ấy có thể không còn phát ra từ một người mẹ cụ thể, nhưng vẫn tồn tại trong tâm tưởng người con. Nó hòa vào khói, vào gió, vào dòng sông, vào phù sa và ký ức. Dấu ba chấm trước hai tiếng “mẹ ru” tạo một khoảng lặng cần thiết, để người đọc tự nghe tiếp phần âm thanh nằm ngoài câu chữ.
Và có lẽ đó chính là cái duyên của bài thơ mà nhà thơ Lư Văn Khoa không dựng một quê hương thật lớn; anh chỉ đặt trước mắt người đọc một buổi chiều, một nồi cá linh, một bông điên điển vàng và một làn khói bếp. Nhưng từ làn khói mong manh ấy, cả quê nhà bỗng hiện về. Có mẹ, có cha, có tuổi thơ, có dòng sông, có những mùa nước nổi và có một người đã đi rất xa để rồi suốt đời vẫn tìm đường trở lại.
Khói rồi sẽ tan. Nước vẫn cứ trôi. Hoa điên điển rồi cũng theo mùa mà nở. Chỉ có tình mẹ và ký ức quê hương ở lại, lặng lẽ như phù sa bồi đắp đôi bờ. Để một buổi chiều nào đó, giữa cuộc đời nhiều ngược xuôi, chỉ cần bắt gặp một làn khói cay bay qua, người ta bỗng nghe trong lòng mình vọng lại một tiếng ru xưa. Và biết rằng, nơi sâu nhất của ký ức, quê nhà chưa bao giờ mất./.
BÁ NHA
