Theo một chuyến đò về miền “Tết Phương Nam”

 

TẾT PHƯƠNG NAM.

                                                           Thơ: PHẠM QUANG TUẤN

 

Hoa mai nở khắp cùng thôn xóm

Cánh én mang Xuân đến đậm đà

Đò đưa xuôi ngược dòng sông nước

Phương Nam Tết đất nở ngàn hoa.

 

Xuân Đồng Tháp muỗi ngân tiếng sáo

Hương rừng tràm bát ngát mật ong

Rừng nguyên sinh đất lành sếu đậu

Sen Tháp Mười nở nụ cười hồng.

 

Đò đưa xuôi ngược miền sông nước

Xuân đã về Châu Đốc, An Giang

Ngào ngạt thơm từ quê Bảy Núi

Thoáng thoảng  mùi mắm lóc, cá lăng.

 

Đò đưa xuôi ngược dòng sông nước

Sẽ đưa ta về Phụ Tử, Hà Tiên

Lăng Mạc Cửu khẩu khí linh thiên

Đón đợi người lần đầu đến viếng.

 

Đò đưa xuôi ngược dòng sông nước

Sẽ đưa ta về chốn Cực Năm

Dòng Tam Giang  đò xuôi Than  Đước

Bát ngát Tràm Đất Mũi Cà Mau…

 

Đò đưa xuôi ngược dòng sông nước

Đưa  ra về đồng muối Bạc Liêu

Thăm nơi ở của Nhà Công Tử

Đã một thời phí tuổi xuân.

 

Đò đưa xuôi ngược dòng sông nước

Lênh đênh trên đò hát cải lương

Sáu câu Hoài Cổ bên cổ mộ

Lời Cao Văn Lầu gởi người thương.

 

Dạo  bến Ninh Kiều thăm dòng sông

Yêu Cần Thơ gạo trắng nước trong

Dù thuyền một chuyến trên Sông Hậu

Lục bình lờ lững tím cả dòng.

                   

Đò đưa xuôi ngược  sông miền Tây

Muốn đi chợ nỗi tới nơi đây

Cái Răng nơi huyện còn độc nhất

Sinh sôi nhịp sống người dùm vầy.

                  

Hoa mai nở khắp cùng thôn xóm

Cánh én mang xuân  đến đậm đà

Đò đưa xuôi ngược dòng sông nước

Phương Nam Tết mời bạn ghé qua.

 

Lời bình :BÁ NHA

THEO MỘT CHUYẾN ĐÒ VỀ MIỀN “TẾT PHƯƠNG NAM”

(Lời bình tác phẩm thơ “Tết phương Nam” của Phạm Quang Tuấn)

Có lẽ không nơi nào đón Tết bằng một sắc thái riêng như phương Nam. Không có cái se lạnh đặc trưng của miền Bắc, mùa xuân nơi đây đến trong sắc vàng hoa mai, cánh én chao nghiêng và những dòng sông đầy phù sa. Nhưng đọc “Tết phương Nam” của nhà thơ Phạm Quang Tuấn, ta nhận ra một điều thú vị: mùa xuân không chỉ đến bằng hoa, bằng nắng mà còn theo những chuyến đò. Con đò cứ “xuôi ngược dòng sông nước”, đưa người đọc đi qua Đồng Tháp, Châu Đốc, Hà Tiên, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ… để rồi trở về với lời mời chân tình: “Phương Nam Tết mời bạn ghé qua”.

Nếu xem bài thơ như một chuyến du xuân thì “đò đưa” chính là nhịp chèo dẫn đường. Hình ảnh ấy được lặp lại nhiều lần, gần như một điệp khúc, tạo nên nhịp điệu lênh đênh đặc trưng của miền sông nước. Người đọc có cảm giác đang ngồi trên một chiếc ghe nhỏ, để dòng nước đưa đi giữa mùa xuân phương Nam. Nhờ đó, không gian bài thơ mở ra khoáng đạt, nối liền nhiều vùng đất và nhiều sắc thái văn hóa.

Mở đầu hành trình là sắc mai: “Hoa mai nở khắp cùng thôn xóm / Cánh én mang Xuân đến đậm đà”. Nếu mùa xuân miền Bắc có hoa đào thì phương Nam có hoa mai. Hoa mai “nở khắp cùng thôn xóm”, nghĩa là xuân đã len vào từng mái nhà, con đường, xóm làng. Cánh én báo mùa, còn con đò đưa người vào một không gian xuân rất riêng. Ba hình ảnh hoa mai, cánh én, dòng sông lập tức tạo nên sắc thái phương Nam vừa rực rỡ vừa phóng khoáng.

Đi qua Đồng Tháp, mùa xuân mang theo hương rừng và sắc sen: “Hương rừng tràm bát ngát mật ong / Rừng nguyên sinh đất lành sếu đậu / Sen Tháp Mười nở nụ cười hồng”. Tác giả cảm nhận Đồng Tháp không chỉ bằng thị giác mà còn bằng hương vị. Có hương tràm, mật ong, có sếu giữa rừng nguyên sinh và sen Tháp Mười. Đặc biệt, hình ảnh sen được nhân hóa thành “nụ cười hồng”, khiến cảnh vật trở nên gần gũi, có hồn.

Con đò tiếp tục đưa ta về Châu Đốc, An Giang. Bài thơ chuyển từ sắc màu thiên nhiên sang mùi vị: “Ngào ngạt thơm từ quê Bảy Núi / Thoáng thoảng mùi mắm lóc, cá lăng”. Đây là nét thú vị của tác phẩm: những gì rất đời thường cũng có thể trở thành ký ức. Văn hóa một vùng đất không chỉ nằm trong danh thắng hay đền đài, mà đôi khi nằm ngay trong một mùi hương, một món ăn khiến người xa quê bắt gặp là nhớ quê nhà.

Từ Bảy Núi, dòng thơ xuôi về Hà Tiên với Phụ Tử, lăng Mạc Cửu – những địa danh gợi chiều sâu lịch sử. Thiên nhiên và ký ức cùng hiện diện, để mỗi vùng đất không chỉ có cảnh đẹp mà còn mang theo câu chuyện của những người đã góp phần tạo dựng nên miền đất phương Nam.

Rời Hà Tiên, con đò hướng về tận cùng đất nước. “Chốn Cực Nam” hiện lên với dòng Tam Giang, những hàng đước và rừng tràm Đất Mũi. Không gian càng đi xa càng mở rộng, mang vẻ đẹp hoang sơ, hào sảng. Đó cũng là vẻ đẹp gợi liên tưởng đến tính cách con người phương Nam: phóng khoáng, nồng hậu và giàu nghĩa tình.

Bạc Liêu lại mang đến một lớp ký ức khác với đồng muối, “Nhà Công Tử” và câu chuyện một thời “phí tuổi xuân”. Địa danh trong thơ vì thế không chỉ để ngắm nhìn mà còn để nhớ. Đi qua một vùng đất cũng là đi qua những lớp thời gian đã làm nên diện mạo của vùng đất ấy.

Đặc biệt, khi bài thơ đưa người đọc “lênh đênh trên đò hát cải lương”, chất văn hóa Nam Bộ hiện lên rõ nét: “Sáu câu Hoài Cổ bên cổ mộ / Lời Cao Văn Lầu gởi người thương”. Dòng sông lúc này không chỉ chuyên chở con người mà còn chuyên chở âm nhạc và tâm tình. Cải lương, vọng cổ đã trở thành một phần tâm hồn Nam Bộ; nhắc đến Cao Văn Lầu là chạm vào một mạch văn hóa sâu đậm. Câu hát như theo gió nước, vừa riêng tư vừa cộng đồng.

Đến Cần Thơ, bức tranh sông nước mềm lại với bến Ninh Kiều, sông Hậu, “gạo trắng nước trong” và “lục bình lờ lững tím cả dòng”. Chỉ một đám lục bình trôi chậm cũng đủ gợi cái nhịp sống thong thả của miền Tây. Rồi chuyến đò ghé chợ nổi Cái Răng – một không gian rất đặc trưng của văn hóa sông nước. Những con thuyền vừa là phương tiện mưu sinh, vừa là nơi giao thương, gặp gỡ; qua đó, hiện lên một miền quê biết lấy sông nước làm đường đi và lấy tình người làm điểm nối.

Khép lại bài thơ, tác giả trở về với hình ảnh mở đầu: “Hoa mai nở khắp cùng thôn xóm / Cánh én mang xuân đến đậm đà”. Sau một hành trình dài qua thiên nhiên, lịch sử, món ăn, âm nhạc và đời sống, mùa xuân lại trở về nơi bắt đầu – trong sắc mai, cánh én và tình người.

Về nghệ thuật, điểm nổi bật nhất của “Tết phương Nam” là điệp hình ảnh “đò đưa xuôi ngược dòng sông nước”. Điệp khúc ấy vừa tạo nhịp cho bài thơ, vừa kết nối chuỗi địa danh trải dài trên không gian Nam Bộ. Thơ mang tính kể và dẫn đường khá rõ; nhiều địa danh, chất liệu đời sống được đưa trực tiếp vào câu chữ. Đôi chỗ còn mộc mạc, nhưng chính sự mộc mạc ấy giữ được vẻ chân phương của một chuyến du xuân bằng thơ.

Sau cùng, điều đọng lại không hẳn là ta đã đi qua bao nhiêu địa danh, mà là đã gặp bao nhiêu sắc thái của một miền văn hóa: sắc vàng hoa mai, hương tràm, vị mắm cá, rừng đước, đồng muối, tiếng vọng cổ, câu cải lương, màu tím lục bình và nhịp chợ nổi. Tất cả hòa vào tiếng mái chèo, tạo nên một mùa xuân không lạnh, không rét mà ấm áp bởi phù sa và lòng người.

“Tết phương Nam” vì thế như một lời mời thân tình từ miền đất phương Nam gửi đến khách phương xa. Hãy theo một chuyến đò mà đi, để thấy đất trời nơi đây rộng đến đâu và tình người nồng hậu thế nào. Bởi mùa xuân đẹp nhất có lẽ là khi một vùng đất biết kể câu chuyện của mình bằng hoa, bằng sông nước, bằng tiếng hát – và bằng một lời mời giản dị: Phương Nam Tết mời bạn ghé qua./.

 

(Nội dung lời bình: 1.203 từ)

Người viết lời bình: Nguyễn Bá Nha

–——————-

error: Content is protected !!