“Đi tìm đồng đội sau chiến tranh” – Khi nghĩa tình người lính không khép lại

“Đi tìm đồng đội sau chiến tranh” – Khi nghĩa tình người lính không khép lại
Ảnh minh họa bài thơ: ảnh gốc Nguyễn Đại Hải và AI

ĐI TÌM ĐỒNG ĐỘI SAU CHIẾN TRANH

(Nhân ngày Thương binh Liệt sĩ  27.7 )

Tác giả: Nguyễn Đại Hải

Chiến tranh đã lùi rất xa

Mặt đất cỏ cây đã ra chồi mới

Ngước mắt lên nhìn trời cao vời vợi

Bên hiên nhà, mẹ vẫn đợi đấy anh!

Lá cờ bay trong gió – trời xanh

Anh ngã xuống, làm tường thành Tổ quốc

Cho hôm nay, Đất nước hòa bình

Vì nước non, anh ngã xuống, hi sinh

Thân thể, máu xương hòa mình vào đất mẹ

Đồng đội, đồng bào vẫn âm thầm lặng lẽ

Năm mươi năm rồi, cây đã phủ xanh.

Ai đã từng – mới hiểu – khắc nghiệt của chiến tranh

Bom nổ, đất rung, xới tung đất đá

Trận địa bây giờ xa lạ, khác xưa

Loạt bom dày, đến đất cũng đong đưa

Trong khói lửa, của mưa bom đạn

Hi sinh rồi, có vạn người bước sau anh

Lặn lội khắp rừng xanh, ao hồ , sông suối

Chúng tôi tìm, rong ruổi đón anh về

Non sông mình, đâu cũng là quê

Hôm nay đón anh về với quê mẹ, nhé

Trọn vẹn hiến dâng cả đời trai trẻ

Ơn nặng này, Tổ quốc ghi công

Ngắm nhìn xem, cả đất nước, non sông

Năm mươi năm rồi, hòa bình thống nhất

Trong đấu tranh, có kẻ mất, người còn

Các anh hùng, mãi là những người con

Trung kiên, anh dũng, sắt son một đời

Hết chiến tranh rồi, về với mẹ thôi

Để chúng tôi, đưa anh về nhé

Về với mẹ yêu, như khi mình còn bé

Nằm trong vòng tay của mẹ quê mình

Ngủ đi anh, nằm yên mà ngủ

Trên thân mình  phủ cờ đỏ thắm tươi

Mẹ già rồi, năm mươi năm, vẫn nhớ khôn nguôi

Nước mắt rơi, làm nhòa mắt mẹ

Tôi đứng nhìn… lau nhè nhẹ, khóe mi.

 

Lời bình: NGUYẾN BÁ NHA

“Đi tìm đồng đội sau chiến tranh” – Khi nghĩa tình người lính không khép lại

Có những bài thơ được viết bằng sự trau chuốt của ngôn từ; cũng có những bài thơ trước hết được viết bằng ký ức và tấm lòng. Đi tìm đồng đội sau chiến tranh của Nguyễn Đại Hải thuộc về mạch thơ thứ hai. Không cầu kỳ trong cách thể hiện, bài thơ là tiếng lòng của một người lính sau chiến tranh hướng về những đồng đội đã nằm lại, về những người mẹ đã chờ con suốt bao năm tháng và về nghĩa tình không thể phai mờ của những người từng sống, chiến đấu bên nhau.

Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã đặt người đọc trước sự đối lập giữa thời gian và ký ức:

“Chiến tranh đã lùi rất xa

Mặt đất cỏ cây đã ra chồi mới”.

Chiến tranh đã lùi xa, cỏ cây hồi sinh, đất nước bước sang một cuộc sống mới. Nhưng phía sau màu xanh của hiện tại vẫn còn những khoảng trống không dễ lấp đầy. Bởi vậy, giữa khung cảnh bình yên, hình ảnh “mẹ vẫn đợi” xuất hiện thật ám ảnh:

“Ngước mắt lên nhìn trời cao vời vợi

Bên hiên nhà, mẹ vẫn đợi đấy anh!”

Chữ “vẫn” như kéo dài vô tận thời gian chờ đợi. Năm tháng có thể làm cảnh vật đổi thay, làm con người già đi, nhưng không thể làm người mẹ thôi nhớ con. Với những người mẹ có con hy sinh, chiến tranh dù đã kết thúc từ rất lâu vẫn còn hiện hữu trong một khoảng sâu của trái tim.

Từ hình ảnh người mẹ, bài thơ hướng đến sự hy sinh của người lính:

“Anh ngã xuống, làm tường thành Tổ quốc

Cho hôm nay, Đất nước hòa bình”.

Cách diễn đạt mộc mạc nhưng chứa đựng lòng biết ơn. Người lính ngã xuống không chỉ cho một trận đánh hay một vùng đất, mà góp phần tạo nên nền hòa bình mà những thế hệ sau đang được hưởng. Hình ảnh “tường thành Tổ quốc” vì thế trở thành biểu tượng cho những người đã lấy tuổi trẻ, máu xương của mình để bảo vệ đất nước.

Nhưng tác giả không chỉ nhìn sự hy sinh bằng những lời ngợi ca lớn lao. Ông đưa người đọc trở lại với cái cụ thể, cái khắc nghiệt của chiến trường:

“Năm mươi năm rồi, cây đã phủ xanh

Ai đã từng – mới hiểu – khắc nghiệt của chiến tranh

Bom nổ, đất rung, xới tung đất đá”.

Nửa thế kỷ đủ để những chiến trường xưa thay đổi diện mạo. Cây cối phủ xanh hố bom, những trận địa năm nào có thể trở nên xa lạ. Nhưng với người từng đi qua chiến tranh, ký ức vẫn còn đó. Chiến tranh không chỉ là những trang sử với những mốc thời gian; đó còn là tiếng bom, đất đá bị xới tung và những người đồng đội có thể ngã xuống bất cứ lúc nào.

Chính từ ký ức ấy mà hành trình tìm kiếm đồng đội hiện lên đầy ám ảnh:

“Lặn lội khắp rừng xanh, ao hồ, sông suối

Chúng tôi tìm, rong ruổi đón anh về”.

Hai chữ “chúng tôi” là một trong những điểm sáng của bài thơ. Người còn sống đi tìm người đã mất. Đồng đội tìm đồng đội. Năm tháng không thể xóa bỏ tình cảm được xây dựng trong những năm tháng chiến đấu. “Đón anh về” nghe thật giản dị nhưng rất xúc động. Người đã hy sinh vẫn được gọi bằng tiếng “anh”, vẫn được xem như một thành viên của đội ngũ, chỉ là đã đi trước.

Và hành trình ấy không chỉ là cuộc tìm kiếm hài cốt. Đó còn là hành trình tìm lại ký ức, tìm lại một phần tuổi trẻ của những người còn sống. Mỗi bước chân qua rừng xanh, ao hồ, sông suối cũng là một lần người lính hôm nay trở về với chiến trường năm cũ.

“Non sông mình, đâu cũng là quê” là một câu thơ giàu ý nghĩa. Với người lính, quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Khi đã cầm súng bảo vệ Tổ quốc, mỗi miền đất đi qua đều có thể trở thành một phần ký ức. Vì thế, đưa đồng đội trở về cũng là đưa một người con trở về với quê mẹ.

Từ tình đồng đội, bài thơ mở rộng thành đạo lý tri ân:

“Trọn vẹn hiến dâng cả đời trai trẻ

Ơn nặng này, Tổ quốc ghi công”.

Đó là sự ghi nhận dành cho những người đã hiến dâng tuổi xuân. Có người trở về, có người nằm lại; nhưng tất cả đều góp phần làm nên ngày hòa bình. Tưởng nhớ thương binh, liệt sĩ vì thế không chỉ là một nghĩa cử của hôm nay, mà còn là cách thế hệ sau gìn giữ mối liên hệ với lịch sử và với những con người đã làm nên lịch sử ấy.

Nếu phần giữa bài thơ mang âm hưởng của hành trình tìm kiếm thì những câu cuối lại lắng xuống bằng tình mẫu tử:

“Hết chiến tranh rồi, về với mẹ thôi

Để chúng tôi, đưa anh về nhé

Về với mẹ yêu, như khi mình còn bé

Nằm trong vòng tay của mẹ quê mình”.

Đây là một trong những đoạn thơ giàu cảm xúc nhất. Người lính đã hy sinh được trở về không chỉ với đồng đội, quê hương mà với mẹ. Sau bao nhiêu năm, anh không còn là người lính giữa trận địa mà trở lại là người con bé bỏng của mẹ. Chiến tranh có thể cướp đi tuổi trẻ, nhưng không thể cướp đi tình mẫu tử.

Đặc biệt, lời gọi:

“Ngủ đi anh, nằm yên mà ngủ

Trên thân mình phủ cờ đỏ thắm tươi”

mang âm hưởng như một lời ru muộn màng. Người lính sau những năm tháng nằm lại giữa chiến trường cuối cùng đã có một giấc ngủ bình yên. Lá cờ Tổ quốc phủ lên người anh vừa là biểu tượng của đất nước, vừa như một lời tiễn đưa trang trọng dành cho người con đã trọn đời hiến dâng.

Và rồi bài thơ khép lại bằng hình ảnh người mẹ:

“Mẹ già rồi, năm mươi năm, vẫn nhớ khôn nguôi

Nước mắt rơi, làm nhòa mắt mẹ

Tôi đứng nhìn… lau nhè nhẹ, khóe mi”.

Cái hay của đoạn kết nằm ở sự giản dị. Không cần những lời quá lớn lao, chỉ hình ảnh người mẹ già, đôi mắt nhòa lệ và người đồng đội đứng bên lau nhẹ khóe mi cũng đủ gợi nên cả một câu chuyện dài về chiến tranh và mất mát.

“Mẹ già rồi” – ba chữ ấy chứa đựng cả nửa thế kỷ. Người mẹ đã già, nhưng nỗi nhớ con thì không già. Thời gian có thể làm mắt mẹ nhòa đi, nhưng không thể làm ký ức về người con phai nhạt. Và người lính đứng bên cạnh, lau nhẹ khóe mi, cũng chính là người đang mang trong mình ký ức của cả một thế hệ.

Về nghệ thuật, Đi tìm đồng đội sau chiến tranh sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, trực tiếp, giàu tính kể chuyện. Hệ thống hình ảnh rừng xanh, ao hồ, sông suối, đất mẹ, lá cờ, người mẹ, đồng đội… tạo nên một mạch cảm xúc thống nhất. Thơ không chú trọng những thủ pháp cầu kỳ mà đặt trọng tâm vào cảm xúc chân thành. Chính sự giản dị ấy tạo nên giọng điệu phù hợp với một người lính viết về đồng đội của mình.

Điều đáng quý nhất của bài thơ có lẽ không nằm ở sự cầu kỳ của câu chữ, mà ở tấm lòng người viết. Nguyễn Đại Hải viết về đồng đội bằng sự trân trọng của một người từng đứng trong hàng ngũ, hiểu cái giá của chiến tranh và càng hiểu giá trị của hòa bình. “Đi tìm đồng đội” vì thế không chỉ là tìm kiếm một người đã hy sinh, mà còn là tìm lại một phần ký ức, một phần tuổi trẻ và một lời hẹn nghĩa tình giữa những người lính.

Đọc bài thơ, ta càng thấm thía một điều: chiến tranh có thể kết thúc, nhưng nghĩa tình thì không kết thúc. Những người đã hy sinh không còn hiện diện bằng bước chân, nhưng vẫn hiện diện trong màu cờ Tổ quốc, trong ký ức đồng đội, trong những nén hương tri ân và đặc biệt trong trái tim những người mẹ.

Có những người lính trở về bằng bước chân. Có những người trở về bằng những tấm bia ghi tên. Và cũng có những người trở về sau nửa thế kỷ trong vòng tay mẹ, trong tình đồng đội và trong sự tri ân của quê hương.

“Ngủ đi anh, nằm yên mà ngủ” – lời thơ giản dị như một lời ru của thời bình. Sau bao năm tìm kiếm, người lính đã trở về với mẹ, với quê hương. Còn những người đồng đội đang sống, bằng việc nhớ, tìm và đưa anh về, đã giữ lại một điều vô cùng quý giá: nghĩa tình người lính – thứ tình cảm không bị chiến tranh chia cắt và cũng không bị thời gian xóa nhòa./.

(Nội dung bài bình:1.589 từ)

 

Người viết lời bình: Nguyễn Bá Nha

—————————

error: Content is protected !!