MÙA NƯỚC NỔI MIỀN TÂY
Thơ: Bình Bình Định (Nguyễn Văn Bình)
Chiều mưa phủ trắng cõi miền Tây
Nước nổi mênh mang ngập lối nầy
Cá linh theo nước về đầy rẫy
Bông điên điển nở đượm hương say.
Mái lá ven sông chờ khách đến.
Xuồng ghe xuôi ngược đón mùa nay.
Quê nghèo mà nghĩa tình sâu nặng.
Thương nhớ miền Tây mãi chẳng phai.
Kỷ niệm Long An, 13/9/26.
Lời bình: NGUYỄN BÁ NHA
“MÙA NƯỚC NỔI MIỀN TÂY” – KHI NGƯỜI LÃNG TỬ NEO LÒNG GIỮA MÙA THƯƠNG NHỚ
Có những miền đất không phải nơi ta sinh ra nhưng vẫn có thể trở thành một phần ký ức. Chỉ một dòng sông, một mùa nước, một hương vị dân dã hay một tấm lòng chân chất cũng đủ khiến người ta đi xa mà nhớ. Với Mùa nước nổi miền Tây, Bình Bình Định – tên thật Nguyễn Văn Bình – đã ghi lại một thoáng miền sông nước bằng tám câu thơ mộc mạc, giàu hình ảnh và đượm tình.
Là người con Xứ Nẫu – vùng đất Võ, Trời Văn Bình Định – tác giả mang theo trong hành trang cuộc đời tình yêu quê nhà. Nhưng trên bước đường thiên di, trái tim người lữ khách không chỉ hướng về nơi chôn nhau cắt rốn mà còn biết mở ra trước những miền đất mình từng đi qua. Miền Tây, trong cảm nhận ấy, hiện lên vừa bình dị, phóng khoáng vừa nghĩa tình.
“Chiều mưa phủ trắng cõi miền Tây
Nước nổi mênh mang ngập lối nầy”
Hai câu thơ mở ra một không gian đặc trưng của mùa nước nổi. “Chiều mưa” khiến cảnh vật phủ một màu bảng lảng; còn “nước nổi mênh mang” tạo nên độ rộng lớn của sông nước miền Tây. Chữ “mênh mang” không chỉ gợi không gian mà còn gợi cảm xúc. Nước như lan ra tận chân trời, và cùng với nó là một nỗi niềm cũng đang mở rộng trong lòng người lữ khách.
Đáng chú ý, tác giả không nhìn mùa nước nổi như một hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt. Trong cái nhìn của ông, nước về mang theo sự sống:
“Cá linh theo nước về đầy rẫy
Bông điên điển nở đượm hương say.”
Hai hình ảnh “cá linh” và “bông điên điển” lập tức đưa người đọc vào đúng phong vị miền Tây. Cá linh theo con nước về, bông điên điển nở vàng trên những vùng đất ngập nước. Một bên là sản vật, một bên là hoa; một bên gợi vị ngon, một bên gợi sắc và hương. Chỉ hai câu thơ ngắn, tác giả đã đánh thức cả một miền ký ức về mùa nước nổi.
“Đầy rẫy” là cách nói rất đời thường nhưng có sức gợi. Nó làm hiện lên sự hào phóng của thiên nhiên, nơi con nước mang theo nguồn sống và sản vật. Còn “hương say” khiến bông điên điển vượt khỏi giá trị của một loài hoa để trở thành biểu tượng của nỗi nhớ. Người ta có thể thưởng thức cá linh, bông điên điển bằng vị giác, nhưng khi đã xa rồi, điều còn lại chính là dư vị của một miền quê.
Ở đây thấp thoáng hình ảnh người lữ khách có chút phong trần, lãng tử. Anh ta đi qua miền đất bằng tâm thế của người biết thưởng thức cuộc đời: yêu cảnh, yêu người, yêu cả những gì bình dị nhất. Cá linh, bông điên điển như những người bạn đồng hành của mùa nước nổi; một món ăn dân dã, một chén rượu cùng tri kỷ, một câu chuyện bên dòng sông cũng đủ làm nên một cuộc gặp gỡ đáng nhớ. Cái “say” trong thơ vì thế không chỉ là say hương hoa mà còn là say cảnh, say tình, say cái chất phóng khoáng của miền sông nước.
Nếu bốn câu đầu nghiêng về thiên nhiên và sản vật thì hai câu tiếp theo mở ra nhịp sống con người:
“Mái lá ven sông chờ khách đến.
Xuồng ghe xuôi ngược đón mùa nay.”
“Mái lá ven sông” là hình ảnh rất đỗi bình dị. Không có những ngôi nhà cao rộng, chỉ một mái lá nép bên dòng nước, nhưng chính sự đơn sơ ấy lại làm nên nét duyên riêng. Đặc biệt, tác giả dùng chữ “chờ”: mái lá như có linh hồn, như đang đợi bước chân người phương xa.
Đó cũng là một cách nói về lòng hiếu khách của người miền Tây. Giữa mênh mang sông nước, con người tìm đến nhau bằng sự chân tình. Mái nhà không chỉ là nơi trú ngụ mà còn là nơi đón khách, nơi gặp gỡ, nơi lưu giữ những cuộc chuyện trò.
Hình ảnh “xuồng ghe xuôi ngược” lại tạo nên nhịp chuyển động. Miền Tây trong bài thơ không tĩnh lặng mà luôn có hơi thở cuộc sống. Xuồng ghe là phương tiện mưu sinh, là con đường nối những xóm làng, nhưng trong thơ còn mang ý nghĩa biểu tượng: con người luôn vận động, luôn gặp gỡ, luôn gắn bó với con nước. Mùa nước nổi vì thế không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là mùa của sinh kế và giao hòa.
Sau những nét chấm phá về cảnh vật và cuộc sống, bài thơ dừng lại ở hai câu kết:
“Quê nghèo mà nghĩa tình sâu nặng.
Thương nhớ miền Tây mãi chẳng phai.”
Đây chính là nơi cảnh chuyển thành tình, nơi một chuyến đi hóa thành một nỗi nhớ. “Quê nghèo” là cách gọi chân chất, không tô vẽ. Nhưng chữ “mà” đứng giữa câu thơ đã làm nên một đối sánh đẹp: nghèo về vật chất nhưng giàu có về nghĩa tình. Với tác giả, giá trị của miền Tây không nằm ở sự giàu sang mà ở con người. Cảnh đẹp có thể khiến người ta thích thú, món ăn ngon có thể khiến người ta nhớ vị, nhưng chính tình người mới khiến nỗi nhớ trở nên sâu nặng.
Câu thơ “Thương nhớ miền Tây mãi chẳng phai” vì vậy có sức ngân vang. “Mãi” là thời gian kéo dài; “chẳng phai” là sự bền bỉ của tình cảm. Một người con Xứ Nẫu đã đi qua miền Tây, nhưng miền đất ấy đã kịp để lại một dấu ấn trong tâm hồn. Điều này cho thấy tình yêu quê hương trong bài thơ không khép kín trong ranh giới địa lý. Con người có thể yêu nơi mình sinh ra, đồng thời yêu thêm những miền đất đã trao cho mình những kỷ niệm đẹp.
Về nghệ thuật, Mùa nước nổi miền Tây chọn thể thơ tám chữ với câu chữ giản dị, hình ảnh gần gũi và ngôn ngữ đậm hơi thở đời sống. Tác giả không sử dụng những hình ảnh cầu kỳ mà chỉ chọn vài nét tiêu biểu: chiều mưa, nước nổi, cá linh, bông điên điển, mái lá, xuồng ghe. Những chi tiết ấy đủ để dựng nên một miền Tây vừa có cảnh sắc, vừa có hương vị, vừa có nhịp sống.
Điểm đáng quý là bài thơ có sự vận động tự nhiên từ cảnh đến người, từ người đến tình. Hai câu đầu là không gian mênh mang; hai câu tiếp là sản vật; hai câu sau là mái nhà, xuồng ghe; và cuối cùng là nghĩa tình. Cách triển khai ấy khiến bài thơ tuy ngắn nhưng có một đường cảm xúc rõ ràng: bắt đầu bằng cái nhìn, đi qua sự thưởng thức rồi kết lại bằng nỗi nhớ.
Ngôn ngữ thơ cũng góp phần tạo nên chất chân quê. Những từ như “đầy rẫy”, “mái lá”, “xuôi ngược” mang hơi thở đời sống, trong khi “mênh mang”, “hương say”, “thương nhớ” mở rộng chiều sâu cảm xúc. Sự kết hợp giữa cái dân dã và chất trữ tình làm cho miền Tây trong thơ không xa lạ, trái lại rất gần gũi với người đọc.
Đằng sau tám câu thơ là một thông điệp giản dị mà đẹp: một miền đất được nhớ lâu không chỉ vì cảnh sắc mà bởi tình người nơi ấy. Đời người có những cuộc gặp tưởng như thoáng qua, nhưng một hương hoa, một món ăn, một mái nhà ven sông hay một tấm lòng chân chất cũng có thể neo lại trong ký ức rất lâu.
Bình Bình Định đã viết về miền Tây bằng tâm thế của một người đi xa nhưng giàu lòng giao cảm. Là người con Xứ Nẫu, ông mang theo tình quê của mình để đón nhận tình đất, tình người nơi phương Nam. Trong thơ có chút phong trần của người lữ khách, có cái “say” của người thưởng ngoạn và trên hết là sự trân trọng dành cho một miền quê nghĩa tình.
Mùa nước nổi miền Tây vì thế không chỉ kể về một mùa nước. Đó còn là câu chuyện về một mùa thương nhớ. Nước có thể lên rồi xuống, mùa có thể qua rồi lại đến, nhưng những tình cảm chân thành mà con người trao cho nhau thì có thể ở lại rất lâu. Và khi nhà thơ khép lại bằng câu “Thương nhớ miền Tây mãi chẳng phai”, người đọc cũng nhận ra rằng điều làm nên sức sống của một miền quê đôi khi không phải là những gì lớn lao, mà chính là một chút hương, một chút tình và một tấm lòng biết nhớ./.
(Nội dung bài bình: 1.522 từ)
Bá Nha
