“Hoa tím tình xưa”- Màu bằng lăng và một miền ký ức không phai

“Hoa tím tình xưa”- Màu bằng lăng và một miền ký ức không phai
Chân dung nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Thị Thu Ba

HOA TÍM TÌNH XƯA

 Tác giả: Văn Tần Thu Ba (Nguyễn Thị Thu Ba – Cần Thơ)

Bằng lăng hoa nở tím trời
Mình em ngồi ngắm nhớ người ngày xưa
Đâu rồi những buổi đón đưa?
Em – Anh hai đứa mình vừa mới yêu
Nhớ thương những buổi hẹn chiều
Bên nhau ta dệt thật nhiều ước mơ
Em thì say đắm trăng, thơ
Anh làm thi sĩ mộng mơ say tình
Thuở xưa hai đứa chúng mình
Yêu nhau độ giữa bằng lăng tím mùa…
Còn đâu hoa tím, người xưa
Bằng lăng ngày ấy cũng vừa trổ hoa
Em tìm hỏi chuyện tình ta
Bằng lăng trao lại cánh hoa phai tàn
Em về lặng bước lang thang
Dòng sông còn đó, đò ngang thay người
Cúi mình nhặt cánh hoa rơi
Hay là em nhặt lại thời nhớ thương?
Bằng lăng hoa nở tím đườngMà lòng em lạc giữa vườn… yêu xưa!

Lời bình: Nguyễn Bá Nha

“HOA TÍM TÌNH XƯA’ – MÀU BẰNG LĂNG VÀ MIỀN KÝ ỨC KHÔNG PHAI”

Có những loài hoa chỉ cần nhìn thấy là ký ức bỗng trở về. Một sắc hoa, một con đường, một dòng sông cũng có thể đánh thức trong lòng người cả một miền thương nhớ. Về Cần Thơ, có cô giáo yêu màu tím. Với Hoa tím tình xưa, một trong những bài thơ, trang văn mang chủ đều sắc tím, Văn Tần Thu Ba không chỉ viết về bằng lăng – loài hoa gợi mùa, gợi tuổi trẻ và những rung động đầu đời – mà qua sắc tím ấy. Nữ thi sĩ Thu Ba  tìm về một mối tình đã xa, một thời yêu đương đã cũ nhưng vẫn còn nguyên trong sâu thẳm tâm hồn. Bằng giọng thơ mộc mạc, chân tình, bài thơ dẫn người đọc từ hiện tại trở về quá khứ, rồi từ quá khứ trở lại hiện tại, để nhận ra: có những người đã đi xa, nhưng một mùa hoa vẫn đủ sức giữ họ ở lại trong ký ức. Màu tím vẫn là màu Thu Ba yêu nhất.

Ngay từ hai câu mở đầu:
“Bằng lăng hoa nở tím trời
Mình em ngồi ngắm nhớ người ngày xưa”

Màu tím đã phủ lên cả không gian và tâm trạng. “Tím trời” không chỉ gợi một mùa hoa mà còn tạo nền cho nỗi nhớ. Hoa đang nở ở hiện tại, còn “người ngày xưa” thuộc về quá khứ. Đặc biệt, hai chữ “mình em” gợi một khoảng trống rõ rệt: ngày trước là “em – anh”, là hai người cùng yêu, cùng mơ; hôm nay chỉ còn một người đứng trước mùa hoa cũ.

Từ sắc hoa nhuộm  ký ức tình yêu đẹp:
“Đâu rồi những buổi đón đưa?
Em – Anh hai đứa mình vừa mới yêu
Nhớ thương những buổi hẹn chiều
Bên nhau ta dệt thật nhiều ước mơ”

Câu hỏi “Đâu rồi” vang lên như một tiếng gọi vào khoảng không. Những buổi đón đưa, những buổi hẹn chiều, những ước mơ từng có nay đã thành chuyện của “ngày xưa”. “Hai đứa mình vừa mới yêu” mang vẻ trong trẻo của tình yêu tuổi trẻ, nơi người ta chỉ cần những buổi hẹn và những ước mơ giản dị để thấy cuộc đời đẹp hơn.

Động từ “dệt” cũng rất gợi. Hai người từng cùng nhau dệt nên những ước mơ, như dệt từng sợi kỷ niệm thành một tấm tình yêu. Nhưng rồi thời gian đi qua, những gì từng tưởng gần gũi lại trở thành miền hồi ức.
“Em thì say đắm trăng, thơ
Anh làm thi sĩ mộng mơ say tình”

Hai câu thơ làm hiện lên một thế giới yêu đương đầy chất lãng mạn. Em say trăng, say thơ; anh là thi sĩ “mộng mơ say tình”. Trăng và thơ trở thành những dấu hiệu của một tình yêu trong trẻo, nơi cảm xúc được nuôi dưỡng bằng những điều rất đẹp.

Và tình yêu ấy được ghi dấu bằng một mùa hoa:
“Thuở xưa hai đứa chúng mình
Yêu nhau độ giữa bằng lăng tím mùa…”

“Bằng lăng tím mùa” từ đây không còn đơn thuần là hình ảnh thiên nhiên. Nó trở thành ký hiệu của tình yêu. Mỗi mùa bằng lăng trở lại cũng là lúc ký ức có thể trở về.

Bởi vậy, khi tác giả viết:
“Còn đâu hoa tím, người xưa
Bằng lăng ngày ấy cũng vừa trổ hoa”
Nỗi buồn hiện hữu. Hoa vẫn nở, nhưng người xưa không còn. Cảnh cũ có thể trở lại theo mùa, còn con người và tình yêu thì không thể trở về nguyên vẹn. Thiên nhiên tuần hoàn, nhưng đời người chỉ đi về phía trước.
“Em tìm hỏi chuyện tình ta
Bằng lăng trao lại cánh hoa phai tàn”

Hai câu thơ có một nét nhân hóa đẹp. Nhân vật trữ tình như tìm đến hoa để hỏi về chuyện tình của mình, và hoa chỉ có thể “trao lại” một cánh hoa phai tàn. Cánh hoa trở thành câu trả lời của thời gian. Nó từng tươi thắm như tình yêu, nay phai tàn như những tháng năm không thể quay trở lại.

Bằng lăng vì thế trở thành chứng nhân của tình yêu và thời gian. Cái “phai tàn” của cánh hoa đồng thời gợi sự đổi thay của tuổi trẻ, của tình yêu và những gì từng rất đẹp.

Nhưng nỗi nhớ không biến thành trách móc. Nhân vật trữ tình chỉ lặng lẽ bước đi:
“Em về lặng bước lang thang
Dòng sông còn đó, đò ngang thay người”

Đây là một trong những cặp câu giàu sức gợi nhất. Nếu bằng lăng là dấu hiệu của tình yêu thì dòng sông là hình ảnh của thời gian. Dòng sông vẫn còn đó, những chuyến đò vẫn qua lại, nhưng “đò ngang thay người”. Cảnh vật vẫn quen thuộc, chỉ có con người đã đổi thay.

“Đò ngang thay người” là cách nói giản dị mà ám ảnh. Không cần kể nguyên nhân chia xa, tác giả chỉ đặt trước mắt người đọc một dòng sông và một chuyến đò. Đò vẫn sang sông, cuộc đời vẫn tiếp tục, nhưng người từng đi cùng ta trên một bến cũ đã không còn ở đó.

Đặc biệt: “Cúi mình nhặt cánh hoa rơi/Hay là em nhặt lại thời nhớ thương?” đã nâng nỗi nhớ lên một tầng sâu hơn. “Nhặt cánh hoa rơi” là việc có thể làm, nhưng “nhặt lại thời nhớ thương” thì không thể. Hoa có thể nằm trong bàn tay, còn thời gian đã mất thì không ai có thể nhặt lại.

Câu hỏi “Hay là…” cho thấy một tâm hồn biết quá khứ không thể trở về nhưng vẫn muốn giữ lại chút gì của ngày xưa. Vì thế, hành động cúi xuống nhặt hoa không phải sự níu kéo tuyệt vọng, mà là cách nâng niu một ký ức từng đẹp.

Khép lại bài thơ là sự trở về của sắc tím:
“Bằng lăng hoa nở tím đường
Mà lòng em lạc giữa vườn… yêu xưa!”

Nếu đầu bài là “tím trời” thì cuối bài là “tím đường”. Sắc tím dường như gần hơn, nhưng lòng người lại đi sâu hơn vào miền ký ức. “Lạc giữa vườn yêu xưa” là một hình ảnh đẹp: nhân vật trữ tình không lạc giữa một khu vườn thực, mà lạc giữa khu vườn của những kỷ niệm.

Cái hay của chữ “lạc” là ở chỗ người xưa đã đi xa, tình yêu đã thuộc về quá khứ, nhưng ký ức vẫn còn đó. Mỗi mùa hoa trở lại, con người lại có thể “lạc” vào những tháng năm đã cũ. Dấu ba chấm sau “yêu xưa” càng làm câu thơ có độ ngân, như một câu chuyện chưa thật sự khép lại.

Về nghệ thuật, Hoa tím tình xưa sử dụng thể thơ lục bát mềm mại, ngôn ngữ gần gũi, giàu chất tâm tình. Hình ảnh bằng lăng được lặp lại ở đầu và cuối bài tạo thành một vòng tròn cảm xúc: từ hoa mà nhớ người, từ người mà trở về với hoa. Dòng sông, đò ngang, cánh hoa rơi cũng trở thành những hình ảnh gợi thời gian, sự chia xa và ký ức.

Điều đáng quý là bài thơ không có lời oán trách. Nỗi buồn được nói bằng một sắc hoa, một dòng sông, một cánh hoa rơi. Chính sự chân thành ấy giúp cảm xúc không bị lên gân mà giữ được vẻ tự nhiên. Đó là nỗi nhớ của một người từng yêu, từng mơ và từng có một mùa bằng lăng rất đẹp trong đời.

Có thể nói, Hoa tím tình xưa là câu chuyện về một mối tình đã đi qua nhưng chưa hoàn toàn phai trong tâm tưởng. Bằng lăng vẫn nở mỗi mùa, dòng sông vẫn chảy, đò ngang vẫn qua lại; chỉ có con người là đổi thay. Và trước mùa hoa cũ, một người bất chợt cúi xuống nhặt cánh hoa rơi, rồi tự hỏi mình đang nhặt một cánh hoa hay đang cố nhặt lại một thời thương nhớ.

Có lẽ đó cũng là sức sống của ký ức: những gì đã qua không thể trở lại, nhưng một sắc hoa cũng đủ làm trái tim rung lên. Bằng lăng rồi sẽ lại tím trời, tím đường; còn “vườn yêu xưa” vẫn ở đâu đó trong mỗi con người từng thật lòng yêu thương – một miền ký ức không cần gọi tên, nhưng chẳng dễ nào phai./.

(Nội dung bài bình:1.416 từ)

Lời bình: Nguyễn Bá Nha

 

error: Content is protected !!